- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh T phạm tội theo Điều 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh T, y án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 107 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:158/2018/HS-PT Ngày 25-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Vĩnh Chuyển
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Đức Kỳ
Ông Trần Minh Long
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 25/9/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 144/2018/TLPT-HS ngày 13/8/2018 đối với bị cáo Nguyễn Anh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2018/HS-ST ngày 04/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Anh T (U), sinh ngày 20/4/1998 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Đà Nẵng; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Con ông Nguyễn Văn C (c) và bà Nguyễn Thị H (s); Tiền án, tiền sự: Chưa; Nhân thân: Ngày 16/01/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra còn có bị cáo Nguyễn Anh V không có kháng cáo và không bị kháng cáo kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 ngày 12 tháng 01 năm 2018, trong lúc đi chơi tại khu C thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Anh T nhìn thấy 05 tấm cốt pha gỗ ép của ông Trương Văn C để tại đường cống thoát nước công trình đang thi công khu C thành phố Đà Nẵng không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. T rủ thêm em trai là Nguyễn Anh V đến phụ giúp thì V đồng ý. V đi đến nhà ông Thái Quốc H thuê xe bò kéo của ông H rồi cả hai kéo chở 05 tấm cốt pha về bán cho Huỳnh Nguyễn Hoài L là người thu mua phế liệu với số tiền 600.000đ. Do L không có tiền nên đã nhờ ông Huỳnh Tấn H là cha của L thay L trả cho T 600.000đ. Sau khi nhận tiền thì T cho V 150.000đ, còn lại T tiêu xài hết. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 7.080.000đ.
Tại Bản án sơ thẩm số 21/2018/HS-ST ngày 04/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 107 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Anh T 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Anh V nhưng bị cáo này không kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị; phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án.
Ngày 16/7/2018, bị cáo Nguyễn Anh T có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin xét xử theo trình tự phúc thẩm để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh T theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ. Xét về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo thì thấy rằng bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác trị giá 7.080.000đ (Bảy triệu không trăm tám mươi ngàn đồng). Bản án hình sự sơ thẩm số số 21/2018/HS-ST ngày 04/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại, bị cáo mồ côi cha, cha của bị cáo được thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Vì vậy căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 355 BLTTHS 2015, đề nghị HĐXX chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Anh T vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đơn kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Anh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó HĐXX có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 12/01/2018, Nguyễn Anh T và Nguyễn Anh V đã có hành vi lén lút trộm cắp 05 tấm cốt pha gỗ ép của ông Trương Văn C có trị giá 7.080.000đ (Bảy triệu không trăm tám mươi ngàn đồng) để tại đường cống thoát nước công trình đang thi công khu C thuộc xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng để bán lấy tiền tiêu xài. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2018/HS-ST ngày 04/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh T thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Mặt khác, bị cáo là người khởi xướng, rủ rê em bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS. Đồng thời, bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” vào ngày 16/01/2017, tuy đã được xóa án tích theo luật định, song bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó đối với bị cáo phải xử lý nghiêm, tưng xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định pháp luật, xử phạt bị cáo mức án 09 tháng tù là phù hợp. Do đó, HĐXX không chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa và kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh T, y án sơ thẩm.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 107 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Anh T 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Phòng HSNV – CA Tp Đà Nẵng; - CQ THAHS – CA huyện Hòa Vang; - VKSND huyện Hòa Vang; - CQCSĐT Công an huyện Hòa Vang; - Toà án nhân dân huyện Hòa Vang; - Vụ GĐKT I – TAND tối cao; - Bị căo; - Lưu HS. ơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Vĩnh Chuyển |