vanban.org

Bản án 158/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Trần Văn Ph.

Về trách nhiệm nuôi con: Không xem xét. Về chia tài sản chung: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Trần Văn Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 20/9/2018
V/v tranh chấp: " Hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà; Ông Nguyễn Trọng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà; Nguyễn Thị Cảnh và ông Nguyễn Đăng Lĩnh

- Thư ký phiên toà: Ông; Nguyễn Xuân Tráng

Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà; Nguyễn Thị Phương Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2018/TLST- HNGĐ ngày 17/7/2018, về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2018/QĐXX-ST, ngày 04/9/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị; Phạm Thị L, sinh năm 1988. Có mặt

Địa chỉ: Xóm 12, xã TL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Anh; Trần Văn Ph, sinh năm 1983. Vắng mặt

Địa chỉ: Xóm 12, xã TL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị Phạm Thị L kết hôn với anh Trần Văn Ph vào ngày 09/02/2015 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống tại nhà nội một thời gian rồi hai vợ chồng đi làm ăn ở Miền Nam, sau đó thì quay về sinh sống tại xã TL và bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, sống không hợp nhau nên đã cãi nhau suốt, do vợ chồng gặp nhiều khó khăn trong kinh tế, nên đến tháng 02/2018 thì vợ chồng sống ly thân, chị Phạm Thị L về bên ngoại ở và sinh sống từ đó cho đến nay. Nay chị Phạm Thị L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, nguyện vọng xin được ly hôn anh Trần Văn Ph.

- Về trách nhiệm nuôi con: Theo chị Phạm Thị L, vợ chồng chưa có con chung với nhau, hiện tại chị cũng không có thai.

- Về chia tài sản chung: Chị Phạm Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Trần Văn Ph đến Tòa án để làm việc công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như xét xử, song anh Trần Văn Ph đều vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến : Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng. Còn về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Trần Văn Ph; về con cái và tài sản không có yêu cầu nên không xem xét; chị Phạm Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như việc xét xử, song anh Trần Văn Ph đều nhiều lần vắng mặt, nên Tòa án không thể công khai chứng cứ và hòa giải, tại phiên tòa hôm nay anh Trần Văn Ph đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ, song vẫn vắng mặt tại phiên tòa.

Cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị L và anh Trần Văn Ph, được xác lập trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 09/02/2015 tại UBND xã TL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai người sống với nhau tình cảm bình thường cho đến tháng 02/2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống với nhau tính tình không hợp, hơn nữa cũng do điều kiện kinh tế gặp nhiều khó khăn, nên tình cảm vợ chồng rạn nứt, nên hai người sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án cũng triệu tập nhiều lần để hòa giải, chị Phạm Thị L thì nhất quyết xin ly hôn, anh Trần Văn Ph thì đều vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay chị Phạm Thị L một mực xin được ly hôn, còn anh Trần Văn Ph lại tiếp tục vắng mặt. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, việc xin ly hôn của chị Phạm Thị L, là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Trần Văn Ph.

Về trách nhiệm nuôi con: Hai người chưa có con chung và không có yêu cầu nên không xem xét.

Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét giải quyết về phần tài sản.

Về án phí: Phạm Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên ;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; 56 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Trần Văn Ph.

2. Về trách nhiệm nuôi con: Không xem xét.

3. Về chia tài sản chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị L

: 300

( Ba trăm ngàn đồng

. Chị Phạm Thị L,

300

( Ba trăm ngàn đồng )

án

chị

heo biên lai 0001343

17/7/2018 c

, tỉnh Nghệ An.

Nguyên đơn, có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ