vanban.org

Bản án 158/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

nhân và gia đình 2014; Điều 28, 35, 39, 144, 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự

được sửa đổi bổ sung năm 2015; Pháp lệnh số 10/2009/PL – UBTVQH 12 ngày 02.2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? nhân và gia đình 2014; Điều 28, 35, 39, 144, 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 158/2018/HNGĐ-ST

Ngày: 05/09/2018

HUYỆN CHỢ MỚI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Ngọc Trang. - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Tấn Khoa; 2. Ông Trần Thanh Sang. Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Dương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang không tham gia phiên tòa. Ngày 05 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 334/2018/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2018 về việc tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2018/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 199/2018/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Ngọc M– Sinh năm 1996 (Có mặt). Địa chỉ: Số nhà 232A, ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh N – Sinh năm 1988 (Vắng mặt). Địa chỉ: Số 37A tổ 01 ấp Th, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. 3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị N – Sinh năm 1953 (Vắng mặt). Địa chỉ: Số 37A tổ 01 ấp Th, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 12.4.2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Huỳnh Thị Ngọc M trình bày: Chị và anh Nguyễn Minh N cưới nhau vào tháng 5 năm 2017 có đăng ký kết hôn, hôn nhân do M mối và được cha mẹ quyết định. Vợ chồng sống hạnh được khoảng 5 tháng thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do chồng nghe lời bên

chồng, không quan tâm đến vợ nên chị về nhà cha mẹ ruột sống và ly thân khoảng 9 tháng nay. Nay tình cảm không còn chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh N. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Thị Ngọc V – sinh ngày 19/02/2018 hiện nay chị đang chăm sóc nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Về quan hệ tài sản chung: Lúc cưới cha mẹ chồng có cho vợ chồng 20 chỉ vàng 24kara (9999), sau khi cưới chị có đưa cho mẹ chồng là Phạm Thị N giữ dùm việc đưa vàng không có làm giấy tờ, chỉ có gia đình bên chồng biết người ngoài không ai biết, sau đó mẹ chồng có đưa cho chồng 05 chỉ bán để trả nợ, hiện nay còn lại 15 chỉ vàng 24kara (9999), sau khi ly hôn chị yêu cầu mẹ chồng trả lại cho vợ chồng 15 chỉ vàng 24kara (9999) và chị yêu cầu được chia 7,5 chỉ vàng 24kara (9999). Tại biên bản không hòa giải được ngày 17.7.2018 chị M rút một phần yêu cầu về việc chia tài sản, không yêu cầu bà Phạm Thị Nhấn phải trả lại cho chị 15 chỉ vàng 24k loại 9999 để vợ chồng phần chia. * Về nợ chung: Không có Tòa án đã thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ anh N đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhưng anh vắng mặt và cũng không gởi ý kiến cho Tòa án xem xét. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi Nên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Chị Huỳnh Thị Ngọc M xin ly hôn với anh Nguyễn Minh N có nơi cư trú ấp Th, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Anh Nguyễn Minh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N. [3] Chị M và anh N do người M mối dẫn đến kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn, chung sống được 5 tháng thì phát sinh mâu thuẩn, không còn chung sống đến nay. Chị M xin ly hôn, Tòa án án hòa giải nhiều lần chị cương quyết ly hôn. Tòa án đã thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ anh N nhiều lần nhưng anh không đến và cũng không gửi ý kiến cho Tòa án xem xét, xét thấy anh chị chung sống hạnh phúc thời gian ngắn thì chị ly thân đến nay, chứng tỏ mâu thuẫn giữa anh, chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị M xin ly hôn với anh N, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình “ Khi vợ hoặc chồng xin ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn…” do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M.

Về con chung: Có 01 con chung Nguyễn Thị Ngọc V, sinh ngày 19.02.2018 hiện nay sống chung với chị M. Xét thấy từ khi anh chị không còn chung sống cháu Vy sống với chị M, cuộc sống ổn định, cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Căn cứ Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 “ Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con …”, anh N cũng không có ý kiến về việc nuôi con nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, giao chị tiếp tục nuôi dưỡng con chung. [5] Chị M nuôi con và có yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, xét thấy yêu cầu của chị là chính đáng, căn cứ khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình “ Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con ”, Hội đồng xét xử buộc anh N phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng số tiền 700.000đ kể từ tháng 9 năm 2018 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động được. [6] Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện chị M có yêu cầu bà Nhấn phải trả lại 15 chỉ vàng 24k loại 9999 để vợ chồng phân chia, Tòa án đã thụ lý yêu cầu của chị và đưa bà Phạm Thị Nhấn tham gia tố tụng, nay chị rút yêu cầu chia tài sản nên Hội đồng xét xử Đình chỉ yêu cầu của chị và không cần thiết phải triệu tập bà Nhấn. [7] Về nợ chung: Ghi nhận chị M trình bày là không có. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh chị vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Huỳnh Thị Ngọc M và anh Nguyễn Minh N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Căn cứ Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: 1- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Ngọc M được ly hôn với anh Nguyễn Minh N. 2- Về con chung: Chị Huỳnh Thị Ngọc M được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Thị Ngọc V, sinh ngày 19.02.2018. Anh Nguyễn Minh N phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng số tiền 700.000đ (Bảy

trăm ngàn đồng), kể từ tháng 9 năm 2018 đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động được. Chị Huỳnh Thị Ngọc M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con. 3- Về tài sản: Đình chỉ yêu cầu của chị Huỳnh Thị Ngọc M đối với bà Phạm Thị Nhấn về việc đòi lại số vàng 15 chỉ 24k loại 9999 để vợ chồng phần chia. 4- Về án phí: Chị Huỳnh Thị Ngọc M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 956.000 đồng (Chín trăm năm mươi sáu ngàn đồng) chị M đã nộp theo biên lai số 0019599 ngày 08.5.2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới. Chị M được nhận lại 656.000đ (Sáu trăm năm mươi sáu ngàn đồng). Anh Nguyễn Minh N phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng.) Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ