vanban.org

Bản án 1578/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Q.

Về quan hệ vợ chồng: Bà Huỳnh Thị Q được ly hôn với ông Trịnh Xuân H. Giấy chứng nhận kết hôn số 144, Quyển số 01 ngày 26 tháng 11 năm 2008 do Uỷ ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Đ cấp hết hiệu lực kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Quang Hợp - Trịnh Xuân Hậu tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1578/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27/9/2022
V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn

2. Bà Võ Thị Mai

-Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Lê Quỳnh Thư –Thư ký Toà án nhân dân quận Gò Vấp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Nghĩa – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 657/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2022 về “tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 368/2022/QĐXXST-HN ngày 16 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 333/2022/QĐST-HN ngày 06 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Q, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số 347/54/6 X, Phường Y, quận G, TP. H;

Bị đơn: Ông Trịnh Xuân H, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số 347/54/6 X, Phường Y, quận G, TP. H;

(Bà Q có đơn xin xử vắng mặt, ông H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Q trình bày:

Bà và ông Trịnh Xuân H tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn năm 2008, tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Đ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 144, Quyển số 01 ngày 26 tháng 11 năm 2008. Kể từ khi về sống chung, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, không ai chịu hiểu ai, hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông H.

- Về con chung: Có hai con chung gồm trẻ Trịnh Huỳnh Xuân T, sinh ngày 08/6/2009 và Trịnh Huỳnh Xuân P, sinh ngày 07/8/2013.

Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H không đến Tòa, không nộp bản ghi ý kiến và không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ, hòa giải mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Q có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu như trên.

Ông H vắng mặt không lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

Về người tham gia tố tụng: Chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt biên bản cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Tòa án nhận định:

Về tố tụng :

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Theo kết quả xác minh của Công an Phường 09, quận Gò Vấp, ông Trịnh Xuân H có hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại địa chỉ số 347/54/6 X, Phường Y, quận G nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận G theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về người tham gia tố tụng:

Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo qui định tại các Điều 171, 173, 175, 176, 177 và Điều 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông H vắng mặt, bà Q do bận công việc nên có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà Q và ông H theo qui định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ vợ chồng: Ông H và bà Q chung sống từ năm 2008 có đăng ký kết hôn theo đúng qui định nên hôn nhân của ông H và bà Q là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà Q trình bày, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh mâu thuẫn là do không hòa hợp về tính tình và cách sống, không ai chịu hiểu ai. Hai bên cũng đã ngồi lại tìm phương án tự giải quyết nhưng không có kết quả. Từ năm 2017 đến nay, ông H và bà Q đã sống ly thân, mỗi người một nơi không ai chăm sóc cho ai nên bà yêu cầu Tòa giải quyết được ly hôn với ông H để ổn định cuộc sống.

Theo kết quả xác minh của Hội Liên hiệp phụ nữ Phường 09, quận Gò Vấp có nội dung : ‘‘…Cuộc sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, từ năm 2017 đến nay, hai vợ chồng sống ly thân…’’.

Theo lời khai của bà Q và kết quả xác minh nêu trên thì mâu thuẫn vợ chồng xảy ra đã lâu, hiện cả hai không còn chung sống, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Do đó, nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được, cả hai không có sự quan tâm chia sẻ gắn bó lẫn nhau. Bản thân ông H không đến Tòa án để trình bày ý kiến và hòa giải chứng tỏ ông H cũng không còn quan tâm đến hôn nhân vợ chồng. Vì vậy yêu cầu của bà Q là được ly hôn với ông H là có cơ sở để chấp nhận.

- Về con chung: Có hai con chung gồm trẻ Trịnh Huỳnh Xuân T, sinh ngày 08/6/2009 và Trịnh Huỳnh Xuân P, sinh ngày 07/8/2013. Ý kiến của bà Q, bà yêu cầu được nuôi 02 con chung đến khi 02 con chung trưởng thành. Cũng theo kết quả xác minh của Hội Liên hiệp phụ nữ Phường Y, quận G có nội dung : ‘‘…các con chung hiện đang sống cùng với cha mẹ…’’. Ông H vắng mặt không có ý kiến về con chung, các con chung có ý kiến mong muốn được ở với mẹ. Do đó, việc giao 02 trẻ Trịnh Huỳnh Xuân T và Trịnh Huỳnh Xuân P cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, tâm sinh lý và điều kiện sống của các con nên có cơ sở để Tòa án chấp nhận.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q xác định không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.

- Về án phí: Bà Huỳnh Thị Q phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Q đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0048255 ngày 09 tháng 5 năm 2022.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH :

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Q.

- Về quan hệ vợ chồng: Bà Huỳnh Thị Q được ly hôn với ông Trịnh Xuân H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 144, Quyển số 01 ngày 26 tháng 11 năm 2008 do Uỷ ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Đ cấp hết hiệu lực kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Bà Huỳnh Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Trịnh Huỳnh Xuân T, sinh ngày 08/6/2009 và Trịnh Huỳnh Xuân P, sinh ngày 07/8/2013.

Ghi nhận sự tự nguyện bà Q không yêu cầu ông Trịnh Xuân H cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông H đến khi bà Q có yêu cầu.

Ông Trịnh Xuân H có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Thị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

2. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Q phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Q đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0048255 ngày 09 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận G. Bà Q đã nộp đủ án phí

3. Về quyền kháng cáo: Bà Q và ông H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được niêm yết, tống đạt hợp lệ bản án.

4. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ