- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mỹ P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự - mua bán trái phép chất ma túy (điều…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Mỹ P 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 157/2026/HS-ST Ngày: 28-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Hạnh Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Sơn
2. Ông Trần Văn Trìu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ái Vy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim Thoa – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 148/2026/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2026; đối với bị cáo:
Trần Mỹ P, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: C K, phường V, thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: 4 B, phường T, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình L, sinh năm 1967 và bà (không rõ); bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 05-01-2026. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Phước T - Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19-9-2025, Bùi Bảo S rủ Nguyễn Thành T1 đến nhà trọ của S tại địa chỉ 1 B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh để tâm sự chuyện gia đình. Khoảng 19 giờ 20 cùng ngày, T1 đến gặp S tại phòng trọ; trong lúc ngồi nói chuyện, S nói với T1 mua ma túy về sử dụng, T1 đồng ý. Lúc này, S gọi điện cho Trần Mỹ P hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng và hẹn P giao ma túy tại phòng trọ của S. Khoảng 30 phút sau, P đến trước phòng trọ của S và đưa cho S 01 túi nylon bên trong chứa ma túy đá, S cầm túi ma túy đưa cho T1, rồi chuyển khoản số tiền 200.000 đồng vào tài khoản của P để trả tiền mua ma túy. Sau khi nhận được tiền, P rời đi, còn T1 và S cùng nhau sử dụng ma túy tại nhà S. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 20-9-2025, Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh đã bắt quả tang S và T1 đang có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” (qua giám định khối lượng ma túy sau khi S, T1 sử dụng còn lại là 0,0390 gam, loại Methamphetamine).
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập Trần Mỹ P nhưng không có mặt tại địa phương. Ngày 12-11-2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm người đối với P. Ngày 05-01-2026, Cơ quan điều tra đã làm việc với Trần Mỹ P và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của P tại phòng trọ ở địa chỉ 4 đường B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình khám xét, phát hiện và thu giữ ma túy và những đồ vật, tài liệu liên quan.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Mỹ P thừa nhận hành vi bán trái phép ma túy cho Bùi Bảo S như nêu trên. Đối với số ma túy thu giữ tại nơi ở của P là P mua của một người phụ nữ (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an phát hiện, thu giữ.
Tại Bản kết luận giám định số 1697/KL-KTHS-MT ngày 09-01-2026 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận về đối tượng giám định ma túy thu giữ của Trần Mỹ P: 01 túi nylon dạng túi zip có kích thước 7cm x 4,2cm (ký hiệu mẫu A1), có khối lượng 2,0670 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định số 1696/KL-KTHS-MT ngày 09-01-2026 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận về đối tượng giám định ma túy thu giữ của Trần Mỹ P:
- Mẫu chất bột màu xanh chứa (đựng) trong 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt có kích thước 9,5cm x 6cm (ký hiệu mẫu A1), có khối lượng 0,0614 gam, là ma túy, loại MDMA; 01 (một) số mẩu viên nén màu hồng chứa (đựng) trong 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt có kích thước 9,5cm x 6cm (ký hiệu A2), có khối lượng 0,0627 gam, là ma túy, loại MDMA.
- Mẫu chất bột màu hồng chứa (đựng) trong 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt có kích thước 7,5cm x 4cm (ký hiệu A3), có khối lượng 0,3885 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
- 01 (một) viên nén màu xanh, trắng, không rõ hình dạng chứa (đựng) trong 01 (một) gói nylon không màu trong suốt có kích thước 3cm x 2,5cm (ký hiệu A4), không tìm thấy thành phần các chất ma túy thường gặp, khối lượng 0,3885 gam.
Tại Bản kết luận giám định số 1698/KL-KTHS ngày 09-01-2026 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận về đối tượng giám định ma túy thu giữ của Trần Mỹ P: 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma túy được làm bằng một chai nhựa màu nâu đen, có chiều cao 13cm, có nắp chai bằng nhựa màu trắng, trên nắp chai có 01 (một) lỗ tròn gắn 01 (một) hút nhựa màu trắng và 01 (một) lỗ tròn gắn 01 (một) ống thủy tinh trong suốt; 02 (hai) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt, có kích thước tương đồng của mỗi túi là 8,2cm x 5cm bên trong có chất bám dính gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
+ Đối với 01 (một) túi nylon dạng túi zip có kích thước 7cm x 4,2cm, bên trong chứa ma túy; sau khi giám định còn 1,1515 gam chất ma túy, loại Methamphetamine được niêm phong trong 01 phong bì số 1697 ngày 09-01-2026 của Phòng K Công an Thành phố H;
+ Đối với 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt có kích thước 9,5cm x 6cm bên trong chứa chất bột màu xanh và một số mẫu viên nén màu hồng; 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt có kích thước 7,5 cm x 4cm bên trong chứa chất bột màu hồng; 01 (một) túi nylon không màu trong suốt được dán kín các mép có kích thước 3cm x 2,5cm bên trong chứa 01 viên nén màu xanh trắng; sau khi giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 1696 ngày 09-01-2026 của Phòng K Công an Thành phố H (mẫu vật đã hết trong quá trình giám định);
+ Đối với 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma túy được làm bằng một chai nhựa màu nâu đen, có chiều cao 13cm, có nắp chai bằng nhựa màu trắng, trên nắp chai có 01 (một) lỗ tròn gắn 01 (một) hút nhựa màu trắng và 01 (một) lỗ tròn gắn 01 (một) ống thủy tinh trong suốt đã uốn cong thành nỏ và 02 (hai) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt, có kích thước tương đồng của mỗi túi là 8,2cm x 5cm; sau khi giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 1698 ngày 09-01-2026 của Phòng K Công an Thành phố H (mẫu vật đã hết trong quá trình giám định);
+ Đối với 07 (bảy) ống thủy tinh, có kích thước tương đồng nhau, mỗi ống dài 12,5cm (trong đó có 03 ống bị vỡ nham nhở không nguyên vẹn), P khai do con P tưởng là đồ chơi nên nhặt về;
+ Đối với 01 (một) hộp quẹt ga (bật lửa) bằng nhựa màu vàng, trên hộp quẹt có dán giấy ghi dòng chữ “TANAKA LONG HOA CO.,LTD” đã qua sử dụng; 01 (một) hộp quẹt ga (bật lửa) bằng nhựa trắng, trên hộp quẹt có dán giấy màu đỏ ghi dòng chữ “HOA VIỆT”, đã qua sử dụng; 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu trắng, có chiều dài 9,5cm, mũi kéo nhọn, thân kéo khắc chìm ký hiệu “KM.603” và NGHIA”, đã qua sử dụng; 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt, kích thước 3cm x 2,5cm; 01 (một) cái cân tiểu ly màu đen, kích thước 12,5cm x 7,5cm đã qua sử dụng là những dụng cụ để P sử dụng bán ma túy.
Hiện tất cả vật chứng trên đã chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 – Thành phố Hồ Chí Minh quản lý, chờ xử lý.
Tại Cáo trạng số 207/CT-VK-KV11 ngày 23-4-2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Mỹ P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Mỹ P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
+ Về hình phạt, đề nghị hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Mỹ P từ 04 năm đến 05 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
+ 01 (một) túi nylon dạng túi zip có kích thước 7cm x 4,2cm, bên trong chứa (đựng) 1,1515 gam chất ma túy, loại Methamphetamine;
+ 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt có kích thước 9,5cm x 6cm;
+ 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt có kích thước 7,5 cm x 4cm;
+ 01 (một) túi nylon không màu trong suốt được dán kín các mép có kích thước 3cm x 2,5cm;
+ 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma túy được làm bằng một chai nhựa màu nâu đen, có chiều cao 13cm, có nắp chai bằng nhựa màu trắng, trên nắp chai có 01 (một) lỗ tròn gắn 01 (một) hút nhựa màu trắng và 01 (một) lỗ tròn gắn 01 (một) ống thủy tinh trong suốt đã uốn cong thành nỏ;
+ 02 (hai) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt, có kích thước tương đồng của mỗi túi là 8,2cm x 5cm;
+ 07 (bảy) ống thủy tinh, có kích thước tương đồng nhau, mỗi ống dài 12,5cm (trong đó có 03 ống bị vỡ nham nhở không nguyên vẹn);
+ 01 (một) hộp quẹt ga (bật lửa) bằng nhựa màu vàng, trên hộp quẹt có dán giấy ghi dòng chữ “TANAKA LONG HOA CO.,LTD” đã qua sử dụng;
+ 01 (một) hộp quẹt ga (bật lửa) bằng nhựa trắng, trên hộp quẹt có dán giấy màu đỏ ghi dòng chữ “HOA VIỆT”, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu trắng, có chiều dài 9,5cm, mũi kéo nhọn, thân kéo khắc chìm ký hiệu “KM.603” và NGHIA”, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt, kích thước 3cm x 2,5cm;
+ 01 (một) cái cân tiểu ly màu đen, kích thước 12,5cm x 7,5cm đã qua sử dụng.
- Bị cáo Trần Mỹ P đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và thống nhất với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 19-9-2025, tại trước phòng trọ địa chỉ 1 B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Mỹ P đã bán cho Bùi Bảo S 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng (giám định khối lượng ma túy sau khi S, T1 sử dụng còn lại là 0,0390 gam, loại Methamphetamine). Tiến hành khám xét nơi ở của P tại 4 B, phường T, thành phố Hồ Chí Minh, P có hành vi tàng trữ ma túy tại nơi ở của mình, qua giám định có khối lượng 2,4555 gam, loại Methamphetamine và 0,1241 gam, loại MDMA; P tàng trữ nhằm mục đích bán để kiếm lời nhưng chưa kịp bán cho ai thì bị bắt giữ.
Như vậy, hành vi của Trần Mỹ P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của con người; đồng thời, đây còn là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn kiếm tiền phục vụ cho bản thân mà cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần xử lý nghiêm bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Do đó, để đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy mà Nhà nước và xã hội đang ra sức thực hiện, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ích cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) túi nylon dạng túi zip có kích thước 7cm x 4,2cm, bên trong chứa ma túy; sau khi giám định còn 1,1515 gam chất ma túy, loại Methamphetamine được niêm phong trong 01 phong bì số 1697 ngày 09-01-2026 của Phòng K Công an Thành phố H; 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt có kích thước 9,5cm x 6cm bên trong chứa chất bột màu xanh và một số mẫu viên nén màu hồng; 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt có kích thước 7,5 cm x 4cm bên trong chứa chất bột màu hồng; 01 (một) túi nylon không màu trong suốt được dán kín các mép có kích thước 3cm x 2,5cm bên trong chứa 01 viên nén màu xanh trắng; sau khi giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 1696 ngày 09-01-2026 của Phòng K Công an Thành phố H (mẫu vật đã hết trong quá trình giám định); 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma túy được làm bằng một chai nhựa màu nâu đen, có chiều cao 13cm, có nắp chai bằng nhựa màu trắng, trên nắp chai có 01 (một) lỗ tròn gắn 01 (một) hút nhựa màu trắng và 01 (một) lỗ tròn gắn 01 (một) ống thủy tinh trong suốt đã uốn cong thành nỏ và 02 (hai) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt, có kích thước tương đồng của mỗi túi là 8,2cm x 5cm; sau khi giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 1698 ngày 09-01-2026 của Phòng K Công an Thành phố H (mẫu vật đã hết trong quá trình giám định) là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.
+ Đối với 07 (bảy) ống thủy tinh, có kích thước tương đồng nhau, mỗi ống dài 12,5cm (trong đó có 03 ống bị vỡ nham nhở không nguyên vẹn), P khai đây không phải là dụng cụ sử dụng ma túy, con của P tưởng là đồ chơi nên nhặt về, do có ống bị vỡ không nguyên vẹn nên P sợ nguy hiểm nên gom lại để trong nhà mà chưa vứt bỏ đi; P không có yêu cầu gì nên tịch thu, tiêu hủy.
+ Đối với 01 (một) hộp quẹt ga (bật lửa) bằng nhựa màu vàng, trên hộp quẹt có dán giấy ghi dòng chữ “TANAKA LONG HOA CO.,LTD” đã qua sử dụng; 01 (một) hộp quẹt ga (bật lửa) bằng nhựa trắng, trên hộp quẹt có dán giấy màu đỏ ghi dòng chữ “HOA VIỆT”, đã qua sử dụng; 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu trắng, có chiều dài 9,5cm, mũi kéo nhọn, thân kéo khắc chìm ký hiệu “KM.603” và NGHIA”, đã qua sử dụng; 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt, kích thước 3cm x 2,5cm; 01 (một) cái cân tiểu ly màu đen, kích thước 12,5cm x 7,5cm đã qua sử dụng là những dụng cụ liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy nên tịch thu, tiêu hủy.
Các nội dung có liên quan khác:
Đối với Bùi Bảo S và Nguyễn Thành T1, ngày 25-9-2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Bùi Bảo S, Nguyễn Thành T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hiện vụ án đã được Tòa án nhân dân khu vực 11 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử theo quy định.
Đối với đối tượng bán ma túy cho P hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch; Cơ quan điều tra cần tiếp tục xác minh làm rõ, để xử lý theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Mỹ P 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05-01-2026.
2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Mỹ P.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy đối với:
- 01 (một) phong bì niêm phong số 1696 ngày 09-01-2026 của Phòng K Công an Thành phố H;
- 01 (một) phong bì niêm phong số 1698 ngày 09-01-2026 của Phòng K Công an Thành phố H;
- 01 (một) phong bì niêm phong số 1697 của Phòng K Công an Thành phố H;
- 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt có kích thước 9,5cm x 6cm;
- 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt có kích thước 7,5 cm x 4cm;
- 01 (một) túi nylon không màu trong suốt được dán kín các mép có kích thước 3cm x 2,5cm
- 02 (hai) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt, có kích thước tương đồng của mỗi túi là 8,2cm x 5cm
- 07 (bảy) ống thủy tinh, có kích thước tương đồng nhau, mỗi ống dài 12,5cm (trong đó có 03 ống bị vỡ nham nhở không nguyên vẹn)
- 01 (một) hộp quẹt ga (bật lửa) bằng nhựa màu vàng, trên hộp quẹt có dán giấy ghi dòng chữ “TANAKA LONG HOA CO.,LTD” đã qua sử dụng;
- 01 (một) hộp quẹt ga (bật lửa) bằng nhựa trắng, trên hộp quẹt có dán giấy màu đỏ ghi dòng chữ “HOA VIỆT”;
- 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu trắng, có chiều dài 9,5cm, mũi kéo nhọn, thân kéo khắc chìm ký hiệu “KM.603” và NGHIA”, đã qua sử dụng;
- 01 (một) túi nylon dạng túi zip không màu trong suốt, kích thước 3cm x 2,5cm;
- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma túy được làm bằng một chai nhựa màu nâu đen, có chiều cao 13cm, có nắp chai bằng nhựa màu trắng, trên nắp chai có 01 (một) lỗ tròn gắn 01 (một) hút nhựa màu trắng và 01 (một) lỗ tròn gắn 01 (một) ống thủy tinh trong suốt đã uốn cong thành nỏ
- 01 (một) cái cân tiểu ly màu đen, kích thước 12,5cm x 7,5cm đã qua sử dụng.
(Các vật chứng trên được Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 – Thành phố Hồ Chí Minh quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 148/BB-PTHADS ngày 24-4-2026).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - VKSND TPHCM; - CQ THAHS Công an TPHCM; - PC10 Công an TPHCM; - PV06 Công an TPHCM; - Phân trại tạm giam Phước Thắng- Trại tạm giam số 1-CATPHCM; - VKSND KV11-TPHCM; - Phòng THADS KV11-TPHCM; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hồ Hạnh Nguyên |