- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nguyên nhân khác — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị Thùy Tr - Thạch Hoàng S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Thùy T.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 157/2026/HNGĐ-ST Ngày: 13/4/2026 Về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Thúy Lan;
2. Bà Phạm Tú Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2026/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2026 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/3/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2026/QĐST – HNGĐ ngày 25/3/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Thị Thùy T, sinh năm 1995; nơi thường trú: Số nhà C, tổ A, ấp L, xã P, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ liên hệ: Nhà trọ Nguyễn Kế Vỹ D khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Thạch Hoàng Sa N, sinh năm 1994; nơi thường trú: Ấp K, xã P, tỉnh Vĩnh Long; nơi tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Kế Vỹ D khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Dương Thị Thùy T có yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông Thạch Hoàng Sa N vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Dương Thị Thùy T trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Thùy T và ông Thạch Hoàng S NaoHoo sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện về sống chung với nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long) theo giấy đăng ký kết hôn số 82 ngày 19/9/2019. Cuộc sống hạnh phúc được khoảng thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Sa N thường xuyên ăn nhậu, không lo làm ăn, không phụ giúp bà T trong vấn đề kinh tế gia đình. Mọi chi tiêu sinh hoạt trong gia đình do một mình bà T gánh vác. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, khiến cuộc sống trở nên ngột ngạt, căng thẳng, gây mệt mỏi cho nhau. Vợ chồng đã hòa giải nhiều lần, nhưng ông Sa N không thay đổi được. Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Thạch Hoàng Sa N.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có với nhau 01 người con chung tên Dương Hoàng Nhã T1, sinh ngày 15/9/2023, hiện nay con đang sống chung với vợ chồng bà. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Sa N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn ông Thạch Hoàng Sa N:
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án và yêu cầu ông Thạch Hoàng S Na có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của bà Dương Thị Thùy T nhưng ông Sa N không có ý kiến gì. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Thạch Hoàng Sa N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 02/02/2026 nhưng ông Sa N vắng mặt không có lý do; đồng thời cũng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của bà T.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Thùy T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của bà Dương Thị Thùy T đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn là ông Thạch Hoàng Sa N có địa chỉ tại Nhà T khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Thùy T và ông Thạch Hoàng Sa N là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long) theo giấy đăng ký kết hôn số 82 ngày 19/9/2019 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Bà Dương Thị Thùy T xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng mâu thuẫn về vấn đề kinh tế. Ông Sa N không phụ giúp bà T trong vấn đề kinh tế gia đình, mọi chi tiêu sinh hoạt đề do bà T gánh vác. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, khiến cuộc sống trở nên ngột ngạt, căng thẳng, gây mệt mỏi cho nhau. Tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, không chia sẻ, đồng cảm với nhau các vấn đề trong cuộc sống. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà Dương Thị Thùy T yêu cầu được ly hôn với ông Thạch Hoàng Sa N. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và triệu tập ông Thạch Hoàng Sa N đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông Sa N không có mặt. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng của bà Dương Thị Thùy T và ông Thạch Hoàng Sa N đã thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn.
Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt.
Việc ông Thạch Hoàng S Na bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân với bà Dương Thị Thùy T cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà Dương Thị Thùy T và ông Thạch Hoàng Sa N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu được ly hôn của bà Dương Thị Thùy T.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có với nhau 01 người con chung tên Dương Hoàng Nhã T1, sinh ngày 15/9/2023. Bà Dương Thị Thùy T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Sa N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Xét thấy việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Quá trình tố tụng, ông Thạch Hoàng S Na vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý chí mong muốn được nuôi con. Trong thời gian trước đây và hiện nay con chung vẫn do bà Dương Thị Thùy T nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Nên căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có cơ sở để chấp nhận nguyện vọng của bà Dương Thị Thùy T là được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Dương Hoàng Nhã T1, sinh ngày 15/9/2023.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Dương Thị Thùy T không yêu cầu ông Thạch Hoàng Sa N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Thùy T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Thùy T được ly hôn với ông Thạch Hoàng Sa N.
Về con chung: Buộc ông Thạch Hoàng S Na giao người con chung tên Dương Hoàng Nhã T1, sinh ngày 15/9/2023 cho bà Dương Thị Thùy T tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Dương Thị Thùy T không yêu cầu ông Thạch Hoàng Sa N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Sau ly hôn, bà Dương Thị Thùy T và ông Thạch Hoàng Sa N có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Trường hợp ông Thạch Hoàng Sa N lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc bà Dương Thị Thùy T nuôi con thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Sa N theo quy định của pháp luật. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị Thùy T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí về ly hôn, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003268 ngày 12/01/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Dương Thị Thùy T đã nộp đủ.
3. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND Tp . HCM; - VKSND KV16, Tp . HCM; - Phòng THADS KV16; - UBND xã Phong Thạnh, tỉnh Vĩnh Long; - Đương sự; - Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng |