- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Châu - Bảo"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thanh C về tranh chấp ly hôn đối với bị đơn ông Lê Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16–THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 157/2025/HNGĐ-ST Ngày 29 - 09 - 2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
2. Bà Hoàng Lệ Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình- Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 09 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số:153/2025/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 7 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 81/2025/QĐST – HNGĐ ngày 10/9/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thanh C, sinh năm 1998; thường trú: 203A/1 khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Văn B, sinh năm 1989; địa chỉ: B khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo Đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 05 năm 2025, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phan Thanh C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thanh C và ông Lê Văn B tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 17/01/2018.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau bất đồng trong cuộc sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn hay cãi vã, vợ chồng sống không hạnh phúc. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài thêm, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà Phan Thanh C yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn B.
- Về con chung: Quá trình chung sống, bà Phan Thanh C và ông Lê Văn B có 02 con chung là Lê Thanh H, sinh ngày 22/7/2019 và Lê Đình L, sinh ngày 22/10/2021. Sau khi ly hôn, bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là Lê Thanh H, sinh ngày 22/7/2019 và Lê Đình L, sinh ngày 22/10/2021 không yêu cầu ông Lê Văn B thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lê Văn B: Đã được Tòa án thông báo tham gia tố tụng, nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tại biên bản xác minh ngày sau khi đại diện Tòa án nêu nội dung của buổi làm việc thì được đại diện Hội liên hiệp phụ nữ phường cho biết: bà C không phải là thành viên hội phụ nữ phường. Trước khi khởi kiện ly hôn tại Tòa án bà C không có yêu cầu địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Hội liên hiệp phụ nữ phường cũng không tiếp nhận thông tin cung cấp từ đại diện khu phố cũng như người dân phản ảnh. Vì vậy, Hội liên hiệp phụ nữ phường không rõ nguyên nhân mâu thuẫn và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa bà C và ông B. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án theo quy định.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn, người bảo vệ quyền lợi, ích hợp pháp của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Phan Thanh C có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Lê Văn B đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào ngày 10/9/2025 và ngày 29/9/2025 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ các Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: bà Phan Thanh C và ông Lê Văn B tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11 do Ủy ban nhân dân phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 17/1/2018. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông B là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống chung của vợ chồng không được hòa thuận, hạnh phúc nên bà C yêu cầu ly hôn với ông B. Quá trình tố tụng Tòa án đã triệu tập ông Lê Văn B để hòa giải nhưng ông B vắng mặt không rõ lý do, bà C cũng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt không tham gia hòa giải. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà C yêu cầu ly hôn với ông B là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần chấp nhận yêu cầu được ly hôn của bà Phan Thanh C.
Về con chung: Bà Phan Thanh C có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là Lê Thanh H, sinh ngày 22/7/2019 và Lê Đình L, sinh ngày 22/10/2021. Quá trình tố tụng ông Lê Văn B cũng không có ý kiến gì đối với con chung. Xét thấy, việc giao cháu Lê Thanh H, sinh ngày 22/7/2019 và Lê Đình L, sinh ngày 22/10/2021 cho bà Phan Thanh C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vì vậy, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thanh C.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phan Thanh C không yêu cầu ông Lê Văn B thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thanh C phải chịu án phí theo quy định của của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thanh C về tranh chấp ly hôn đối với bị đơn ông Lê Văn B.
1.1 Về quan hệ hôn nhân: bà Phan Thanh C được ly hôn ông Lê Văn B (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11do Ủy ban nhân dân phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 17/01/2018).
1.2. Về con chung: Bà Phan Thanh C được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Thanh H, sinh ngày 22/7/2019 và Lê Đình L, sinh ngày 22/10/2021. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phan Thanh C không yêu cầu ông Lê Văn B cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, bà Phan Thanh C và ông Lê Văn B có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.
1.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Phan Thanh C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003987 ngày 17 tháng 7 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 16; - Phòng THADS khu vực 16; - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu văn thư; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hà |