- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh C về tội gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 157/2024/HS-ST Ngày: 30-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thanh Vân – Bí thư đoàn Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên huyện Lâm Hà;
2. Bà Trần Thị Hồng Hạnh – Bí thư đoàn huyện Lâm Hà.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Cương – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 154/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2024/QĐXXST–HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
- Nguyễn Minh C, sinh ngày 10/8/2006; tại: Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở hiện nay: thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ đoàn thể, đảng phái: không; con ông Nguyễn Thái T, sinh năm 1974 và bà Hoàng Thị V, sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/7/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Dương Thị H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Trần Ngọc Q, sinh năm 1993.
Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.
+ Anh Lê Tiến T1, sinh ngày 07/3/2006.
Địa chỉ: thôn B, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Trọng P, sinh ngày 11/02/2006.
Địa chỉ: tổ dân phố B, thị trấn N, B, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
+ Anh Nguyễn Quang M, sinh ngày 28/3/2008.
Địa chỉ: thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - anh Nguyễn Quang M: Ông Nguyễn Quang D, sinh năm 1980.
Địa chỉ: thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.
+ Anh Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1999.
Địa chỉ: thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
+ Bà Nguyễn Tuyết H3. Vắng mặt tại phiên tòa.
+ Bà Đào Thị C1. Vắng mặt tại phiên tòa.
+ Chị Lê Thị Minh T2. Vắng mặt tại phiên tòa.
+ Bà Lê Thị T3. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 40 phút ngày 28/11/2022, tại tiệm R thuộc tổ dân phố B, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Lúc này, trong quán có Nguyễn Quang M, sinh ngày 28/03/2008, trú tại: thôn H, xã N, huyện L cùng với Nguyễn Ngọc H1, Đỗ Hoàng P1, K, Nguyễn Trọng P thì cả nhóm nhìn thấy Trần Ngọc Q, sinh năm 1993 nhà ở thôn T, xã Đ, huyện L đang điều khiển xe Honda SH màu trắng đi theo hướng từ T lên Ủy ban nhân dân thị trấn N. Thấy vậy, M điều khiển xe hiệu Honda Wave Anpha màu đen không có biển số của P đuổi theo Q thì thấy Q rẽ vào quán P2 ở tổ dân phố B, thị trấn N. Sau đó, Nguyễn Trọng P gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger cho Nguyễn Minh C, sinh năm 2006 ở thôn R, xã P, huyện L (tên hay gọi là M1) nói với C là nhìn thấy Q vào quán phở Chung T4 thì C nói “ ừ” vì trước đó C nhờ P nếu nhìn thấy Q ở đâu thì gọi cho C biết. M điều khiển xe quay lại tiệm rửa xe thì P nói cho M biết: “anh vừa gọi cho M1 rồi, anh bảo M1 là Q đang ở quán phở C, M hỏi P là M1 có nói gì không thì P nói M1 nói “ừ”. M gọi điện thoại qua M2 cho Lê Tiến T1, sinh ngày 07/03/2006, nhà ở thôn B, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng nói: “em vừa thấy Quý T5 đang ở quán P2, có đi xuống đánh Q không” thì T1 nói “ ừ, chờ anh tí” rồi cúp máy. Lúc này, M lấy mũ bảo hiểm màu đen đang để trên xe của Nguyễn Trọng P, đeo khẩu trang y tế màu trắng và lấy một con dao bầu trong cốp xe của P giấu vào trong túi áo khoác (dao có đặc điểm bản rộng 04cm, lưỡi dao nhọn màu trắng bằng chiều dài khoảng 29cm, cán gỗ màu vàng với mục đích cùng Lê Tiến T1 xuống để đánh Q. M điều khiển xe qua quán phở Chung T4 vẫn thấy Q ở quán, M đi đến gần Ủy ban nhân dân thị trấn đợi khoảng 5 phút không thấy Q đi ra nên M đi về lại tiệm rửa xe HD. Lúc này, Nguyễn Minh C đang ở phòng trọ thì đi ra vườn cà phê cạnh dãy nhà trọ của Cao Tô Minh H2 ở tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện L lấy một túi xách bằng vải loại đựng vợt cầu lông bên trong chứa 03 con dao mỗi con dài khoảng 70cm, cán dao bằng gỗ hình tròn dài khoảng 10cm, lưỡi dao bằng kim loại bản rộng khoảng 04cm, rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha đi về hướng Ủy ban nhân dân thị trấn N và dừng xe trong hẻm sau tiệm điện thoại Tùng S để chờ Q ra đánh. Trên đường về, M thấy Nguyễn Minh C nên M gọi điện thoại cho C nhưng C không nghe máy, M điều khiển xe chạy tới chỗ C và hỏi “đi chém thằng Q hả” thì C trả lời “ừ”, C lấy từ trong túi đựng vợt cầu lông ra 01 con dao đưa cho M, C cầm một con dao, còn một con dao vẫn để trong túi vải. Sau khi chuẩn bị hung khí xong, M và C bàn nhau để xe của C lại rồi M điều khiển xe chở C đi tìm Q để chém. Khi M gọi cho T1, lúc này T1 đang cùng Dương Gia B1, sinh ngày 14/10/2006 ở tổ dân phố C, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để đổ xăng. Khi biết Q đang ở quán P2 thì T1 và B1 cùng rủ nhau đi đánh Q. T1 nói với B1 là trong cốp xe có con dao, sau đó T1 mở cốp xe máy và nói B1 cầm dao để đâm Q. Sau khi đổ xăng xong, T1 điều khiển xe chở B1 xuống quán P2 thì thấy Q điều khiển xe từ trong quán đi về hướng xã G, huyện L. Lúc này, T1 chở B1 đuổi theo Q, đuổi đến gần cầu T thì đuổi kịp Q. B1 nói với T1 “mày chạy sát vào nó để tao đâm” sau đó T1 tăng ga ép sát xe của Q, B1 ngồi sau sử dụng dao bấm đâm Q một cái trúng vào lưng trái. Sau khi đâm được Q, T1 tăng ga bỏ chạy theo hướng đường nhựa tỉnh lộ 725, khi đi đến thôn D, xã G thì B1 vứt lại con dao đã đâm Q ở ven đường rồi cả hai bỏ trốn. Trần Ngọc Q sau khi bị Dương Gia B1 đâm thì điều khiển xe bỏ chạy theo hướng thôn Q, xã G, huyện L. Cùng lúc này, M và C đang đi về hướng xã G thì thấy Q nên C và M đuổi theo đánh Q. Q thấy M và C đuổi theo thì dừng xe gần ngã ba đi vào chợ G và bỏ chạy vào hẻm giữa nhà bà Lê Thị Minh T2 ở thôn Q, xã G, huyện L và nhà bà Nguyễn Thị Tuyết H3. Thấy Q dừng xe bỏ chạy bộ thì M và C cũng dừng xe máy trước sân mỗi người cầm một con dao đuổi theo Q. C chạy trước, M chạy theo sau, khi chạy đến chỗ phơi đồ của nhà bà T2 thì C đuổi kịp Q và vung dao lên chém Q nhưng không trúng, M chạy đến chặn đầu Q và vung dao lên chém trúng một cái vào tay trái Q. Do bị hai người đuổi chém thì Q chạy vào bếp ăn nhà bà T2 đóng cửa lại nhưng C, M vẫn đuổi theo để chém Q. Tại đây, M vung dao chém trúng Q nhưng không biết rõ trúng vị trí nào cơ thể Q, C chạy đến cầm dao chém Q nhưng Q cầm ghế gỗ giơ lên đỡ thì dao chém vào ghế. Ngay lúc này, bà T2 và bà H3 chạy đến và kêu lên “chúng mày làm gì đấy”, nghe thấy vậy M và C chạy ra ngoài sân để lấy xe nhưng xe không nổ máy, M thấy có người đàn ông đứng cạnh đó đang gọi Công an nên cả hai bỏ lại xe chạy bộ về hướng cầu T, khi đến quán cà phê M3 thì M và C vứt dao ở ngoài bãi đất trống cạnh quán rồi vào nhà vệ sinh trốn và gọi cho Nguyễn Ngọc H1 nhà ở thôn H, xã N, huyện L đến đón. Khoảng 05 phút sau, Nguyễn Ngọc H1 điều khiển xe mô tô hiệu Vision, màu đen, mang BKS: 49D1-716.91 đến gặp M và C rồi H1 chở cả hai đi đến tiệm rửa xe của anh Đ ở thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Tại đây, M gọi xe taxi để chở C và M lên Đ để bỏ trốn tại Đ. Cùng ngày, C gọi điện thoại báo cho T1 biết là “Bọn tao vừa chém Quý xong, bọn tao lên Đ luôn”. Lúc này, T1 cũng nói cho C biết “Bọn tao cũng vừa đâm thằng Q xong”, Công báo với T1 đi lên Đ trốn. Trên đường đi, Nguyễn Quang M vứt điện thoại của M xuống đèo T. Sau khi lên Đ, C và M thuê nhà nghỉ để ở nhưng không nhớ địa chỉ. Sau đó, Lê Tiến T1 và Dương Gia B1, sinh năm: 2006, nơi cư trú: tổ dân phố C, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng lên ở nhà nghỉ cùng với M và C. Tại khách sạn, T1 kể việc T1 và B1 dùng dao đâm Trần Ngọc Q gây thương tích. Sau đó, M và C bỏ trốn. Đến ngày 30/11/2022, Nguyễn Quang M đến Công an huyện L đầu thú. Ngày 02/12/2022, Lê Tiến T1 cùng Dương Gia B1 nhận thấy hành vi dùng xe máy đuổi đánh và gây thương tích cho Trần Ngọc Q là vi phạm pháp luật nên đã ra Cơ quan Công an đầu thú.
Tang vật thu giữ: 02 con dao có cùng đặc điểm: cán dao dài 12cm, đường kính 2,5cm, lưỡi dao dài 44,5cm, mũi nhọn; 01 con dao có cán gỗ dài 12cm, lưỡi dao dài 48cm, mũi bằng; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave không biển số; 01 xe mô tô biển số 49D1-15432; 01 túi đựng vợt cầu lông màu đen trên túi có ghi chữ “Racket Zong”.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 47/2023-TgT ngày 10/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận: Căn cứ bảng quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần ban hành theo thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của bộ trưởng Bộ Y, tỷ lệ thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Ngọc Q: 07%( bảy phần trăm). Tổn thương do vật sắc gây nên.
Về xử lý vật chứng: đã được xử lý theo bản án số 59/HSST ngày 08/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.
Tại bản cáo trạng số 162/CT-VKS ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà truy tố bị cáo Nguyễn Minh C về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng và khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C từ 12 đến 15 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Minh C về việc tự nguyện bồi thường cho anh Trần Ngọc Q số tiền là 15.000.000đ.
Về án phí: buộc bị cáo Nguyễn Minh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Nguyễn Minh C có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa với nội dung chính như sau: Bị cáo Nguyễn Minh C có nhân thân tốt, có hoàn cảnh éo le, bố mẹ bị cáo ly hôn khi bị cáo còn rất nhỏ tuổi, bị cáo ở với ông bà nội đều đã già yếu nên không quản lý, giáo dục được bị cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường cho anh Q số tiền là 15.000.000đ thể hiện bị cáo đã ăn năn, hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu, khi chưa đủ 18 tuổi nên suy nghĩ, hành động còn nhất thời, bồng bột. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng, có điều kiện chăm sóc cho ông, bà.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra C huyện L, tỉnh Lâm Đồng và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ nhận thức, bị cáo biết rõ việc dùng hung khí đuổi đánh nhau, gây thương tích cho người khác xâm phạm trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Vào khoảng 09 giờ 40 phút, ngày 28/11/2022, tại thôn Q, xã G, huyện L là nơi tập trung đông dân cư bị cáo Nguyễn Minh C cùng với đối tượng Nguyễn Quang M, Lê Tiến T1, Dương Gia B1 đã có hành vi dùng xe mô tô cầm theo dao đuổi đánh và chém anh Trần Ngọc Q gây nên thương tích cho anh Q với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 07%. Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, dùng hung khí đuổi đánh nhau gây náo loạn tại nơi tập trung đông dân cư gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.
Trong quá trình đánh nhau thì Nguyễn Minh C cùng với đối tượng Lê Tiến T1, Nguyễn Quang M, Dương Gia B1 gây thương tích cho anh Trần Ngọc Q 07% tại thời điểm giám định.
Quá trình điều tra, anh Trần Ngọc Q yêu cầu bị cáo Nguyễn Minh C phải bồi thường số tiền là 25.000.000đ. Tại phiên tòa, anh Trần Ngọc Q chỉ yêu cầu bị cáo Nguyễn Minh C phải bồi thường số tiền là 15.000.000đ. Bị cáo Nguyễn Minh C đồng ý bồi thường cho anh Q số tiền là 15.000.000đ, đây là sự tự nguyện của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần ghi nhận.
Đối với Nguyễn Quang M phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Công an đã áp dụng biện pháp “Nhắc nhở” nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
Đối với Nguyễn Ngọc H1 có hành vi dùng xe mô tô đón Nguyễn Quang M, Nguyễn Minh C từ quán C2 về tiệm rửa xe, H1 không biết hành vi của M, C vừa chém Q, Cơ quan Công an không xử lý hình sự đối với H1 nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Khi quyết định hình phạt cần xem xét bị cáo thành khẩn khai báo tại phiên tòa nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng Điều 91 của Bộ luật hình sự quy định về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Xét tính chất hành vi phạm tội mà bị cáo C đã thực hiện có tính chất hung hãn, coi thường pháp luật. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo C là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Xét quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo C về việc đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C với lý do bị cáo phạm tội khi chưa thành niên, suy nghĩ còn nông nổi là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, về việc người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là không phù hợp nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: vật chứng của vụ án đã được xử lý tại bản án số 59/HSST ngày 08/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/7/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Minh C tự nguyện bồi thường cho anh Trần Ngọc Q số tiền là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc áp dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Minh C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Minh C.
Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai. Người liên quan chỉ được quyền kháng cáo phần có liên quan.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKS, CA huyện Lâm Hà; - Chi cục THADS huyện Lâm Hà; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu HS - BP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hạnh |