vanban.org

Bản án 157/2024/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trượng Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản” Xử phạt: Bị cáo Trượng Thành L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trượng Thành L - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/HS-ST
Ngày: 19 - 12- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Hồng Sơn;

2. Bà Trần Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoài Trọng, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân

dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham

gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền, Kiểm sát viên.

Ngày 19/12/2024, tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công

khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 169/2024/TLST-HS ngày 21/11/2024 theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXST-HS ngày 05/12/2024 đối với bị cáo:

Trượng Thành L, sinh năm 1994, tại Ninh Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở

hiện nay: Khu phố Bàu Trúc, thị trấn Phước D, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận;

Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính:

Nam; Tôn giáo: Bà La Môn; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trượng Văn S và bà Phú

Thị B; Vợ, con: chưa có. Tiền sự: không.

Tiền án: 02

+ Tại bản án số 21/2014/HSST ngày 30/5/2014 của Tòa án nhân dân huyện

Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều

khiển phương tiện giao thông đường bộ” (chưa được xóa án tích).

+ Tại bản án số 25/2022/HSST ngày 15/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện

Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp

hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2023 (chưa được xóa án tích).

Nhân thân:

- Ngày 09/6/2021 bị Chủ tịch UBND thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước,

tỉnh Ninh Thuận áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời gian

03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/10/2024; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ

Công an huyện Tuy Phong, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Ông Lê Văn T, sinh năm 1960 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Phú Lập, xã Hàm Phú, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Mai Xuân L, sinh năm 2001 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 12, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Theo Cáo trạng:

Do không có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên vào ngày 17/10/2024,

Trượng Thành L, sinh năm 1994, cư trú tại: khu phố Bàu Trúc, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, đã có 02 tiền án về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” và “Trộm cắp tài sản” (chưa được xóa án tích) và Mai Xuân L, sinh năm 2001, cư trú tại: Khu phố 12, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận rủ nhau vào huyện Tuy Phong tìm nhà dân có sơ hở để đột nhập vào trộm cắp tài sản. Đến tối ngày 17/10/2024, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream biển số 38N3 – 1652 chở L ngồi phía sau đi từ thị trấn Phước D, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận đến huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/10/2024, L và Lo đi đến đoạn đường liên xã Liên Hương – Phú Lạc, khi đi đến trước khu công trình xây dựng trụ sở Công an xã Phú Lạc thuộc thôn Lạc Trị, xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận thì dừng xe mô tô bên lề đường. L và Lo quan sát thấy công trình không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. L đi vào công trình để tìm tài sản trộm cắp còn Lo đứng bên ngoài giữ xe mô tô và cảnh giới. Khi L đi vào công trình thì nhìn thấy Lê Văn T đang nằm ngủ trên võng, tại bàn phía trên đầu nằm của T có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh nhạt của T đang cắm sạc, L đi đến dùng tay rút điện thoại di động của T ra khỏi ổ sạc và đi ra ngoài. Sau khi lấy trộm được điện thoại L đưa điện thoại cho L cất giữ, sau đó L và L tiếp tục đi tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản thì bị lực lượng tuần tra của Công an xã Phú Lạc phát hiện và truy đuổi, L và L nhảy xuống xe bỏ chạy và bỏ lại xe mô tô nhãn hiệu Dream biển số 38N3 – 1652. Trong lúc bị truy đuổi, Lo giấu điện thoại đã trộm cắp ở sát trụ bê tông bên cạnh đường bê tông hướng vào Trường trung học cơ sở Phú Lạc, sau đó Lo bị tổ tuần tra bắt giữ đưa về trục sở Công an xã Phú Lạc làm việc và thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream biển số 38N3 – 1652, riêng L chạy thoát và bỏ trốn cho đến nay. Quá trình làm việc Lo đã chỉ dẫn vị trí cất giấu điện thoại di động vừa trộm cắp và Công an xã Phú Lạc đã thu giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh nhạt.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 121/KL-HĐĐG ngày 18/10/2024 của

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Tuy Phong, kết luận:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C35, màu xanh nhạt với giá trị là:

927.000đồng.

- Về tang vật chứng:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C35, màu xanh nhạt

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu DAFHAN (Dream) màu sơn nâu biển số 38N3-1652.

- Về bồi thường dân sự:

+ Ông Lê Văn T không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 172/CT-VKSTP-HS ngày 20/11/2024 của Viện kiểm sát

nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Trượng Thành L về tội

“Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Vẫn giữ

nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b

khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ

luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Trượng Thành L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng

tù.

+ Đối với Mai Xuân L cùng có hành vi trộm cắp tài sản với Trượng Thành L

do giá trị tài sản bị trộm cắp dưới 2.000.000đồng và L không có tiền án, tiền sự về

hành vi chiếm đoạt tài sản nên không cấu thành tội phạm và không xem xét TNHS

đối với L.

- Về xử lý vật chứng:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C35, màu xanh nhạt Cơ quan cảnh

sát điều tra Công an huyện Tuy Phong đã trả lại cho bị hại Lê Văn T nên không đề

cập giải quyết.

+ Đối với xe mô tô nhãn hiệu DAFHAN (Dream) màu sơn nâu biển số 38N3-

1652 do chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện

Tuy Phong đã chuyển cho công an huyện Tuy Phong tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý

sau.

- Về bồi thường dân sự:

+ Ông Lê Văn T không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét,

giải quyết.

- Bị cáo Trường Thành L thừa nhận đã thực hiện hành vi đúng như Cáo trạng truy

tố. Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là sai

trái và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh

tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết

thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm

sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và

tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo

về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố

tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố

tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại Lê Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mai

Xuân L, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ vắng mặt. Việc vắng mặt ông T và L tại phiên tòa

không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Sau khi nghe ý kiến của bị cáo và đại diện Viện

kiểm sát, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giải quyết vụ án vắng mặt họ.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo

phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/10/2024 tại thôn Lạc Trị, xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong Trượng Thành L cùng với Mai Xuân L đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C35 của Lê Văn T. Giá trị định giá chiếc điện thoại là: 927.000đồng (tại kết luận định giá tài sản số 121/KL-HĐĐG ngày 18/10/2024). Bị cáo đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích (tại Bản án số 25/2022/HSST ngày 15 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản), lần này bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành về tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu thể hiện ngày 09/6/2021 bị Chủ tịch

UBND thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời gian 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội lần này thể hiện bị cáo là người không có ý thức sửa chữa lỗi lầm, coi thường pháp luật nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo.

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 30/5/2014 bị Tòa án nhân dân

huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” tại bản án số 21/2014/HSST (chưa được xóa án tích) nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa

hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản

của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi đó là vi phạm pháp luật, bị cáo biết nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý nhưng vì tham lam, tư lợi nên đã cố ý phạm tội; bị cáo là người nghiện ma túy, mục đích trộm cắp để lấy tiền mua ma túy về sử dụng. Hành vi của bị cáo thể hiện xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Đối với Mai Xuân L cùng có hành vi trộm cắp tài sản với Trượng Thành L

do giá trị tài sản bị trộm cắp dưới 2.000.000đồng và L không có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên không cấu thành tội phạm và không xem xét TNHS đối với L là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C35, màu xanh nhạt Cơ quan cảnh

sát điều tra Công an huyện Tuy Phong đã trả lại cho bị hại Lê Văn T nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu DAFHAN (Dream) màu sơn nâu biển số 38N3-1652

do chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong

đã chuyển cho Công an huyện Tuy Phong tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là có căn

cứ.

Về bồi thường dân sự:

Bị hại ông Lê Văn T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên nên hội

đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp

luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều

52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trượng Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Trượng Thành L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp

hành hình phạt tù tính từ ngày 21/10/2024.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trượng Thành L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí

hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình

sự: bị cáo Trượng Thành Long có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày

tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo phần có liên quan đến quyền lợi của mình trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ