- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH TUYÊN QUANG ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 157/2023/HS-ST Ngày 12-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Danh Long.
2. Ông Nguyễn Minh Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến từ điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang đến điểm cầu Hội trường xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang vụ án hình sự thụ lý số: 155/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 đối với:
Bị cáo: LÊ MINH T (Tên gọi khác: LÊ VĂN THÀNH) - Sinh ngày: 11-6-1976 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn G, xã K, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Lê Mạnh Đ (đã chết); Con bà: Phạm Thị M – Sinh năm: 1949; Vợ: Nguyễn Thị H – Sinh năm: 1978; Con: Lê Uyển Nhi - Sinh năm 2016.
Tiền án: Bị cáo Lê Minh T bị xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 52/2022/HS-ST ngày 10-5-2022 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo đã chấp hành xong Bản án, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bị cáo Lê Minh T bị xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 82/2004/HSST ngày 20-12-2004 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo đã chấp hành xong Bản án.
- Bị cáo Lê Minh T bị xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 71/2017/HSST ngày 21-9-2017 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo đã chấp hành xong Bản án.
Bị cáo Lê Minh T bị bắt tạm giam ngày 05-10-2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 05-10-2023, bị cáo Lê Minh T là người sử dụng chất ma túy, một mình điều khiển xe mô tô biển số 22S1-322.93 (xe của bà Nguyễn Thị H là vợ của bị cáo T) từ nhà đến khu vực xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, bị cáo T gặp và mua được 01 gói ma túy bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng là Heroine của một người đàn ông không xác định được tên tuổi, địa chỉ, với số tiền 1.000.000 đồng. Bị cáo T cất gói Heroine vừa mua được vào trong người rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi về đến nhà, bị cáo T lấy một ít Heroine trong gói vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức đốt hút vào cơ thể. Số còn lại gói lại bị cáo T chia ra làm 12 gói nhỏ, trong đó 10 gói bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu trắng, 02 gói bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu vàng. Sau đó, bị cáo T cất 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu vàng vào túi áo bên ngực trái và cất giấu 11 gói còn lại trên mặt kệ nhựa để trong buồng ngủ của mình. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo T điều khiển xe mô tô biển số 22S1-322.93 đi đón con và mang theo trên người 01 gói Heroine. Khi đang đi tại đoạn đường bê tông thuộc thôn G, xã K, huyện S, tỉnh Tuyên Quang thì bị Tổ công tác Công an xã K, huyện S, tỉnh Tuyên Quang phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 17 giờ cùng ngày, thu giữ trên người bị cáo T 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu vàng.
Hồi 19 giờ 50 phút ngày 05-10-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Lê Minh T, thu giữ trên mặt kệ nhựa để trong buồng ngủ của bị cáo T 11 gói Heroine (trong đó trong đó 10 gói bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu trắng và 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu vàng). Bị cáo T khai nhận mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với bị cáo Lê Minh T kết quả: Dương tính (+) với ma túy, loại Heroine.
Tại Kết luận giám định số: 1328/KL-KTHS ngày 09-10-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Số chất bột màu trắng có trong 12 gói thu giữ của Lê Minh T ngày 05/10/2023 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Heroin), tổng khối lượng 0,609 gam (Không phẩy sáu trăm linh chín gam).
Tại cáo trạng số: 162/CT-VKSSD ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Minh T. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang đề nghị với HĐXX:
Về tội danh: Tuyên bị cáo Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Minh T từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Lê Minh T bị bắt tạm giam (ngày 05-10-2023).
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ:
01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Lê Minh T; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Lê Minh T giám định ngày 05/10/2023”.
Về án phí, quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Lê Minh T nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa.
Quyền của bị cáo được nói lời sau cùng: Bị cáo Lê Minh T nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị với HĐXX giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về hòa nhập với gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo Lê Minh T khai phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định vật chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 05-10-2023, tại thôn G, xã K, huyện S, tỉnh Tuyên Quang và tại mặt kệ nhựa trong buồng ngủ nhà của bị cáo Lê Minh T, bị cáo T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,609 gam (Không phẩy sáu trăm linh chín gam) ma túy loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,609 gam ma túy, loại Heroine với lỗi cố ý. Bị cáo tàng trữ trái phép ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Lê Minh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 10-5-2022, bị cáo Lê Minh T bị xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 13-01-2023, bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án, bị cáo chưa được xóa án tích. Ngày 05-10-2023, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái pháp chất ma túy với lỗi cố ý. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo Lê Minh T làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo Lê Minh T thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đã xâm phạm sự quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Chất ma tuý là chất kích thích, gây ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng. Từ đó, phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội khác như cướp giật, trộm cắp, lây truyền đại dịch bệnh HIV-AIDS là rất nguy hiểm cho xã hội nói chung và trên địa bàn huyện S, tỉnh Tuyên Quang nói riêng. Trước đó, bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về những tội liên quan đến ma túy, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử thấy rằng cần lên một mức án nghiêm minh đối với bị cáo và cách ly bị cáo trong trại cải tạo một thời gian để giúp bị cáo cai nghiện, tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa chung tội phạm này.
Về vật chứng:
- 01 Phong bì bên trong có chứa ma túy. HĐXX xét thấy, đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ:
01 phong bì bên trong chứa ma túy đã được niêm phong, bên ngoài phong bì có chữ ký của Lê Minh T và dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tỉnh Tuyên Quang.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX FI, biển số 22S1-32293. Ngày 28-10-2023, Cơ quan điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại chiếc xe mô tô nói trên cho bà Nguyễn Thị H là chủ sở hữu hợp pháp. Bà H đã nhận lại tài sản của mình và không có đề nghị gì khác nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Minh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, khoản 1 Điều 23 theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp bắt tạm giam với bị can, ra quyết định truy tố; ra Cáo trạng; thu thập chứng cứ tài liệu đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các vấn đề khác:
- Đối với người đàn ông theo bị cáo T khai nhận là người bán ma túy cho bị cáo tại khu vực xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
- Đối với chiếc xe mô tô biển số 22S1-322.93 của bà Nguyễn Thị H khi bị cáo T sử dụng, bà H không biết bị cáo T dùng vào việc đi mua ma túy nên không đề cập, xử lý.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo T vào ngày 05-10-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã chuyển tài liệu đến Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đề nghị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Điều 21, khoản 1 Điều 23 theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lê Minh T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo T bị bắt tạm giam (ngày 05-10-2023).
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ:
01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Lê Minh T; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Lê Minh T giám định ngày 05/10/2023”.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29-11-2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Tuyên Quang).
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Minh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12-12-2023).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện S; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện S; - Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang; - Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang; - Sở tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - Chi cục THADS huyện S; - Lưu hs, hstha, vp. | T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Việt Cường |