- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn Ng bị truy tố về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn Ng phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt tù nhƣng
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 157/2022/HS-ST Ngày 30-5-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung.
2. Ba Bùi Thị Thúy Lan
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2022 theo Q định đƣa vụ án ra xét xử số 144/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Trịnh Văn Ng, sinh năm 1984, tại Thanh Hóa; thƣờng trú: Số A khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; tạm trú: B khu phố Đ, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Trịnh Văn M, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1959; bị cáo có 02 chị em ruột, lớn sinh năm 1979, nhỏ sinh năm 1993; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1986 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Có đơn xin giải Q vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Lê Công Q, sinh năm 1986; địa chỉ: A đƣờng C, khu phố B, phƣờng D, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn xin giải Q vắng mặt.
2. Chị Phạm Thị Hải Y, sinh năm 1982; địa chỉ: A Bùi Tƣ Toán, khu phố C, phƣờng A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
- Người làm chứng: Anh Trịnh Lƣơng Th. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Tháng 8 năm 2021, thực hiện việc giãn cách xã hội vì covid-19, Lê Công Q thông qua mạng xã hội Facebook, Zalo biết Ng đi lấy đƣợc hàng rau, củ, quả từ tỉnh Đồng Nai về thành phố Dĩ An để tiêu thụ. Khoảng 10 giờ 00 ngày 24/8/2021, Q sử dụng điện thoại OPPO màu đỏ số sim 0974301005 tên Zalo Công Q nhắn tin cho Ng qua điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20S sim số 0927855555 tên Zalo Ngọc Phát nhờ Ng làm giúp giấy đi đƣờng để đƣợc đến các địa bàn thuộc tỉnh Đồng Nai mua rau củ quả về thành phố Dĩ An tiêu thụ, Ng đồng ý. Q nhờ Ng làm cho 01 giấy đi đƣờng, 01 giấy kết quả xét nghiệm covid-19 âm tính tên Lê Công Q và 01 giấy đi đƣờng tên Trịnh Lƣơng Th, sinh năm 1991, trú tại: A Nguyễn Thị P, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng giá 3.100.000 đồng. Ng yêu cầu Q gửi hình chứng minh nhân dân của Th và của Q cho Ng, sau đó Ng nhắn tin cho H có tên Zalo là “Xét nghiệm tại nhà” có số điện thoại 0906612402 nhờ H làm giúp cũng với giá 3.100.000 đồng. Đến chiều cùng ngày, thì Ng đến 01 con hẻm (không nhớ hẻm nào) thuộc khu phố Tây B, phƣờng Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng gặp tên H lấy 03 giấy nhờ H làm và đi đến gặp Q tại khu vực chợ Dĩ An 1, thuộc khu phố Bình Minh 1, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng giao cho Q, Q đƣa Giấy xác nhận “Đi lại do yêu cầu công việc” đứng tên Trịnh Lƣơng Th cho Th. Giấy xác nhận “Đi lại do yêu cầu công việc” của Q, Q giữ để sử dụng mỗi khi ra đƣờng, còn 01 giấy kết quả xét nghiệm covid-19 âm tính giả tên Q, Q sử dụng đến 03 ngày sau thì giấy kết quả xét nghiệm covid-19 âm tính giả hết hạn nên Q vứt bỏ (không xác định đƣợc địa điểm). Q đã chuyển khoản 3.100.000 đồng cho Ng.
Ngày 09/9/2021, tổ công tác Công an phƣờng Dĩ An tuần tra trên đƣờng Nguyễn Thái Học thuộc khu phố Bình Minh 1, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng phát hiện Lê Công Q đang điều khiển xe mô tô biển số 36G1-16261 không đội nón bảo hiểm nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Q xuất trình 01 Giấy xác nhận “Đi lại do yêu cầu công việc” do Chủ tịch Ủy ban nhân dân phƣờng Dĩ An ông Võ Tƣờng Văn ký, mang tên Lê Công Q, Công an phƣờng lập biên bản vi phạm trong lĩnh vực giao thông đƣờng bộ và lập biên bản tạm giữ 01 Giấy xác nhận “Đi lại do yêu cầu công việc” để xác minh sơ bộ ban đầu.
Ngày 21/9/2021, Lê Công Q đến Công an phƣờng Dĩ An làm việc và khai nhận: 01 Giấy xác nhận “ Đi lại do yêu cầu công việc” là do Trịnh Văn Ng làm giúp. Vụ việc đƣợc chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An thụ lý theo thẩm quyền.
Tang vật thu giữ:
+ 01 Giấy xác nhận “ Đi lại do yêu cầu công việc” mang tên Lê Công Q ghi ngày 24/8/2021 có chữ ký Chủ tịch UBND phƣờng Dĩ An ông Võ Tƣờng Văn và con dấu tròn UBND phƣờng Dĩ An;
+ 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ số sim 0974301005 thu của Q;
+ 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A20S sim số 0927855555 thu của Ng.
Căn cứ bản Kết luận giám định số 365/GĐ-PC09 ngày 25/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Chữ ký mang tên “Võ Tƣờng Văn” và hình dấu tròn có nội dung “ *U.B.N.D PHƢỜNG DĨ AN TP DĨ AN T. BÌNH DƢƠNG” trên 01 (một) Giấy xác nhận “Đi lại do nhu cầu công việc”, đề ngày 24/8/2021 (ký hiệu A) so với chữ ký của Võ Tƣờng Văn và hình dấu tròn có nội dung trên “Biên bản về việc thu mẫu con dấu, chữ ký phục vụ công tác giám định để điều tra”, đề ngày 22/9/2021 (ký hiệu B) không phải do cùng một ngƣời ký và con dấu đóng ra.
Cáo trạng số 152/CT-VKS ngày 23 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trịnh Văn Ng về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên Q định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xử phạt bị cáo Trịnh Văn Ng từ 09 (chín) tháng đến 12 (mƣời hai) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mƣời tám) đến 24 (hai tƣ) tháng tù.
* Xử lý tang vật, tƣ vật :
- Đối với 01 Giấy xác nhận “ Đi lại do yêu cầu công việc” mang tên Lê Công Q ghi ngày 24/8/2021 có chữ ký Chủ tịch UBND phƣờng Dĩ An ông Võ Tƣờng Văn và con dấu tròn UBND phƣờng Dĩ An đã làm giả cần tịch thu lƣu hồ sơ.
- Đối với 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A20S cần tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc.
- Đối với 01 sim số 0974301005, 01 sim số 0927855555 cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 Giấy xác nhận “ Đi lại do yêu cầu công việc” tên Trịnh Lƣơng Th; 01 Giấy xác nhận “ Đi lại do yêu cầu công việc” tên Trịnh Văn Ng và 01 giấy kết quả xét nghiệm covid-19 âm tính giả, Th, Ng, Q đã vứt bỏ nên không có chứng cứ xem xét xử lý.
- Đối với sim số 0906612402 đứng tên bà Phạm Thị Hải Y, sinh năm 1982, hộ khẩu thƣờng trú tại ấp M, xã M, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; tạm trú tại A Bùi Tƣ T, khu phố 5, phƣờng A, quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, bà Y chƣa từng đăng ký và sử dụng sim này. Việc ai dùng chứng minh nhân dân của bà đăng ký và sử dụng sim này thì bà Y không rõ.
- Đối với số tiền 3.100.000 đồng, Q đã trả cho Ng, cần yêu cầu Ng nộp để sung vào ngân sách nhà nƣớc.
- Đối với tên H (chƣa rõ nhân thân lai lịch) có tên Zalo là “Xét nghiệm tại nhà” có sim điện thoại số 0906612402, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ xử lý sau.
Do bị cáo và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên không thực hiện phần tranh luận.
Đơn yêu cầu giải Q vắng mặt ngày 23/5/2022, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tuy nhiên, sau 05 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng Viện kiểm sát mới chuyển hồ sơ cho Tòa án là không đúng quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngƣời làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, Q định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Ng cung cấp thông tin của Lê Công Q cho tên Hòa (không rõ nhân thân lai lịch) có tên zalo “ Xét nghiệm tại nhà” để làm Giấy xác nhận “Đi lại do yêu cầu công việc” đứng tên Lê Q có Chữ ký mang tên “Võ Tƣờng Văn” và hình dấu tròn có nội dung “*U.B.N.D PHƢỜNG DĨ AN TP DĨ AN T. BÌNH DƢƠNG” nhƣng không do ông Võ Tƣờng Văn ký và không phải hình dấu tròn của Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An đóng. Lời khai của bị cáo Ng tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhƣ: “GIẤY XÁC NHẬN “Đi lại do yêu cầu công việc””; Kết luận giám định số 411/GĐ-PC09 ngày 27/9/2021; Biên bản vụ việc….. Nhƣ vậy, có đủ cơ sở xác định bị cáo Trịnh Văn Ng đã phạm vào tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức theo quy định tại khoản 1 điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Nhƣ vậy, Cáo trạng số 152/CT-VKS ngày 23 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và bản luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Trịnh Văn Ng về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại điểm c khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng nhƣng đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của cơ quan nhà nƣớc đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, bị cáo làm giả nhƣng không vì tƣ lợi cá nhân đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án tiền sự.
Bị cáo Ng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cƣ trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phƣơng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị Q số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt tù nhƣng cho hƣởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
Biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng
- Đối với 01 Giấy xác nhận “ Đi lại do yêu cầu công việc” mang tên Lê Công Q ghi ngày 24/8/2021 có chữ ký Chủ tịch UBND phƣờng Dĩ An ông Võ Tƣờng Văn và con dấu tròn UBND phƣờng Dĩ An đã làm giả nên cơ quan điều tra đã tịch thu lƣu hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A20S tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc.
- Đối với 01 sim số 0974301005, 01 sim số 0927855555 tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 Giấy xác nhận “ Đi lại do yêu cầu công việc” tên Trịnh Lƣơng Th; 01 Giấy xác nhận “ Đi lại do yêu cầu công việc” tên Trịnh Văn Ng và 01 giấy kết quả xét nghiệm covid-19 âm tính tên Lê Công Q là giả, Th, Ng, Q đã vứt bỏ nên không có chứng cứ xem xét xử lý.
- Đối với sim số 0906612402 đứng tên bà Phạm Thị Hải Y, sinh năm 1982, hộ khẩu thƣờng trú tại ấp M, xã M, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; tạm trú tại A Bùi Tƣ T, khu phố 5, phƣờng A, quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, bà Yến chƣa từng đăng ký và sử dụng sim này. Việc ai dùng chứng minh nhân dân của bà đăng ký và sử dụng sim này thì bà Y không rõ.
- Đối với số tiền 3.100.000 đồng, Q đã trả cho Ng, cần yêu cầu Ng nộp để sung vào ngân sách nhà nƣớc.
- Đối với tên H (chƣa rõ nhân thân lai lịch) có tên Zalo là “Xét nghiệm tại nhà” có sim điện thoại số 0906612402, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ xử lý sau.
Từ những phân tích trên, mức hình phạt nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Q ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn Ng phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.
Căn cứ khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trịnh Văn Ng 09 (chín) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo thời gian thử thách 18 (mƣời tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/5/2022).
Giao bị cáo Trịnh Văn Ng cho Ủy ban nhân dân phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Ng thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi Hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể Q định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A20S.
- Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0974301005, 01 sim số 0927855555.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/4/2021)
- Buộc bị cáo Trịnh Văn Ng giao nộp số tiền 3.100.000 (ba triệu một trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nƣớc.
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Trịnh Văn Ng phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An; - Công an TP Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - UBND nơi bị cáo cƣ trú; - Phòng PV 27 Công an tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PC 81 Công an tỉnh Bình Dƣơng; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - VKS nhân dân tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Th im Hoa |