- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 157/2022/HS-ST ngày 15/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Lu…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SL TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 157/2022/HS-ST Ngày 15 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SL, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Mai Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Văn Tiêm
Bà Quàng Thị Kim
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố SL, tỉnh Sơn La
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Lan - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố SL, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 147/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2022/QĐST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Quang H, sinh ngày 11 tháng 6 năm 2000 tại thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Số 69/1, Nguyễn Công Tr, phường T, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Lê Văn Đ (sinh năm 1975) và con bà Trịnh Thị Tuyết Tr (sinh năm 1977); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 12/7/2021, bị Công an huyện HQ, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Đinh Thị N, sinh năm 1982. Trú tại: Tổ 6, phường QT, thành phố SL, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn Đ, sinh năm: 1975. Trú tại: Số 69/1, Nguyễn Công Tr, phường T, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Quang H, sinh năm 2000, trú tại: số 69/1, Nguyễn Công Tr, phường T, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk, do muốn có tiền tiêu sài cá nhân, đã nảy sinh ý định sử dụng mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khoảng tháng 4 năm 2022, H sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh của mình đăng nhập và sử dụng tài khoản Faccbook tên "Xôi TC” để đăng tải các bài viết, đưa ra thông tin gian dối về bán các loại hoa quả, trái cây trên các trang, nhóm chuyên về mua bán hoa quả và cung cấp số điện thoại 0911.741.615 để người có nhu cầu mua liên hệ trực tiếp với H. Ngày 12/4/2022, sau khi nhìn thấy bài đăng bán sầu riêng của H trong nhóm“Chợ đầu mối hoa qủa miền Bắc", chị Đinh Thị N, sinh năm: 1982, trú tại: Tổ 6, phường QT, thành phố SL, tỉnh Sơn La đã sử dụng tài khoản Facebook tên "Tuyết Nhâm" của mình nhắn tin qua ứng dụng Messenger với tài khoản "Xôi TC” của H để hỏi mua trái cây sầu riêng. Sau khi trao đổi, hai bên thống nhất chị N đặt mua của H 200kg trái cây sầu riêng, loại Ri 6, với giá là 45.000 đồng/kg, tổng giá trị đơn hàng là 9.000.000đ (chín triệu đồng), H yêu cầu chị N chuyển khoản trước 50% giá trị đơn hàng, chị N đồng ý nhưng yêu cầu H phải gửi hình ảnh giấy Chứng minh thư nhân dân của H cho chị N xem trước. Lúc này, H đã gửi cho chị N 01 ảnh chụp mặt trước Giấy chứng minh thư nhân dân có số: 163404358 mang tên Lê Quang H, sinh ngày 19/7/1990, nguyên quán H, Bình Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thị trấn LN, huyện ĐT, tỉnh Lâm Đồng (đây là hình ảnh do Lê Quang H tìm kiếm trên mạng internet và tải về điện thoại rồi sử dụng ứng dụng trên điện thoại để chỉnh sửa, cắt ghép thông tin năm sinh, địa chỉ không đúng với thông tin địa chỉ của H). Tin tưởng những thông tin mà H cung cấp, chị N đồng ý chuyển trước số tiền 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) vào số tài khoản của Lê Quang H thông qua ứng dụng Smartbanking. Khi thấy tiền đã chuyển vào tài khoản, H tiếp tục đưa ra thông tin gian dối là nhà vườn yêu cầu phải chuyển hết số tiền còn lại thì mới gửi hàng và yêu cầu chị N phải chuyển nốt số tiền còn lại. Chị N chuyển tiếp cho H số tiền 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, H yêu cầu chị N phải mua thêm 100kg sầu riêng với giá 30.000 đồng/kg thì mới gửi hàng. Đến sáng ngày 13/4/2022, H thông báo đã chuyển 300kg sầu riêng cho chị N và yêu cầu chị N thanh toán nốt số tiền 100kg sầu riêng nhưng chị N không đồng ý. Sau khi chiếm đoạt được số tiền 9.000.000đ, H chặn liên lạc với chị N và chiếm đoạt toàn bộ số tiền của chị N và sử dụng vào mục đích chi tiêu cá nhân hết.
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax bên trong có 01 thẻ sim điện thoại Vinaphone có số thuê bao 0911.741.615, trên sim có số seri 89840200010952788602.
Ngày 22/6/2022, bố đẻ của bị cáo Lê Quang H là Lê Văn Đ đã tự nguyện bồi thường số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng) cho chị Đinh Thị N.
Tại biên bản xác minh của Công an thành phố SL đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Q, chi nhánh Sơn La, kết quả: Ngày 12/4/2022, tài khoản ngân hàng số 0479999479999 của Lê Quang H nhận được 02 khoản tiền 4.500.000đ, tổng là 9.000.000đ (chín triệu đồng) từ tài khoản 7850115655007 của chị Đinh Thị N.
Tại cáo trạng số 270/CT-VKSTP ngày 01 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL truy tố để xét xử đối với bị cáo Lê Quang H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đó là do không có tiền tiêu sài nên nảy sinh ý định và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản hợp pháp của người khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Lê Quang H, luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Quang H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quang H từ 10 (mười) đến 15 (mười lăm) tháng tù, không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh bên trong chứa 01 sim điện thoại di động Vinaphone.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị hại tranh luận: Nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Quang H.
Bị cáo Lê Quang H tranh luận: Nhất trí với luận tội và không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố SL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Ngày 12/4/2022, Lê Quang H đã dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin không đúng sự thật làm cho chị N tin tưởng chuyển khoản cho H số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng), số tiền này H đã chiếm đoạt để chi tiêu cá nhân hết. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau: Đơn tố giác tội phạm của chị Đinh Thị N đối với Lê Quang H về hành vi chiếm đoạt tài sản tới các cơ quan chức năng có thẩm quyền; Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 19/5/2022 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk đối với Lê Quang H; Kết quả xác minh ngày 04/5/2022 của cơ quan điều tra đối với Ngân hàng thương mại cổ phần quân đội – Chi nhánh Sơn La. Lời khai thừa nhận hành vi phạm tội của Lê Quang H tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án thể hiện việc bị cáo Lê Quang H đã sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bằng thủ đoạn gian dối làm bị hại tin tưởng giao tài sản để bị cáo chiếm đoạt. Với hành vi nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Quang H đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức phạt là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 3 năm.
Về tính chất mức độ của hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ nhận thức biết rõ hành vi phạm tội của bị cáo bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do lười lao động lại muốn có tiền tiêu sài cùng với ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tội phạm bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng nhưng đã hoàn thành, hậu quả xảy ra không những xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của chị Nhâm mà ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo H đã tác động gia đình tích cực bồi thường cho bị hại chị Đinh Thị N; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 12/7/2021, bị Công an huyện HQ, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe cho các hành vi tương tự.
Tuy nhiên, về mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo có phần nghiêm khắc, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi của bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, biên bản xác minh tài sản, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2022 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh bên trong chứa 01 sim điện thoại di động Vinaphone trên sim có số seri 89840200010952788602 là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Quang H 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/5/2022).
Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh bên trong chứa 01 sim điện thoại di động Vinaphone trên sim có số seri 89840200010952788602.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/8/2022 giữa Công an thành phố SL và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố SL, tỉnh Sơn La).
3. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị Đinh Thị N số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng). Chị N đã nhận đủ số tiền bồi thường.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Quang H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/9/2022).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố SL; - Công an thành phố SL; - Chi cục THA dân sự thành phố SL; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - THAHS; - Lưu: Hồ sơ, án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hà Văn Tiêm Quàng Thị Kim | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Thị Mai Hương THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Thị Mai Hương |