vanban.org

Bản án 157/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn V đối với bị đơn bà Vũ Thị N.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn V ly hôn bà Vũ Thị N. Về con chung: Con chung anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 02/9/1993, chị Nguyễn Thị L, sinh ngày 28/11/1995 và chị Nguyễn Thị D, sinh ngày 27/7/1998 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn V - Vũ Thị N"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn V đối với bị đơn bà Vũ Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2022/HNGĐ-ST
Ngày 31-5-2022
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Chánh;

Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1508/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2021 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 176/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Tổ A, khu phố C, phường K, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Tổ A, khu phố C, phường K, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Vũ Thị N kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã R, huyện M, tỉnh Hà Nam Ninh (nay là xã R, huyện M, tỉnh Nam Định) cấp Giấy chứng nhận kết hôn năm 1991. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã và không tôn trọng lẫn nhau. Vì không muốn gia đình đỗ vỡ, vợ chồng đã nhiều lần trao đổi tìm cách giải quyết mâu thuẫn để xây dựng hạnh phúc nhưng không được. Nay ông xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với bà N.

Về con chung: Ông và bà N có 03 con chung là anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 02/9/1993, chị Nguyễn Thị L, sinh ngày 28/11/1995 và chị Nguyễn Thị D, sinh ngày 27/7/1998. Con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Vũ Thị N đã được Tòa án triệu tập để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày tại Tòa án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành, bị đơn không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn V ly hôn bà Vũ Thị N.

- Về con chung: Con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn V phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà Vũ Thị N cư trú tại Tổ A, khu phố C, phường K, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố B thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định.

Về việc vắng mặt đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập các đương sự để tham gia phiên tòa nhưng ông V có đơn xin xét xử vắng mặt, bà N vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân:

Ông V và bà N kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã R, huyện M, tỉnh Hà Nam Ninh (nay là xã R, huyện M, tỉnh Nam Định) cấp Giấy chứng nhận kết hôn năm 1991. Căn cứ các Điều 5, 6, 7, 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, hôn nhân giữa ông V và bà N là hợp pháp. Theo ông V, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã và không tôn trọng lẫn nhau.

Theo kết quả xác minh ngày 01/11/2021, địa phương không biết được mâu thuẫn vợ chồng giữa ông V và bà N. Tuy nhiên, các đương sự đã được Tòa án triệu tập để hòa giải đoàn tụ nhưng ông V có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, bà N vắng mặt không có lý do. Vì vậy, có cơ sở chứng minh ông V đã cương quyết ly hôn; bà N bỏ mặc, không muốn níu kéo tình cảm để tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình.

Từ những nhận định trên, xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông V và bà N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cho ông V được ly hôn bà N.

Về con chung:

Ông V và bà N có 03 con chung là anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 02/9/1993, chị Nguyễn Thị L, sinh ngày 28/11/1995 và chị Nguyễn Thị D, sinh ngày 27/7/1998. Hiện nay, con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Ông V xác định không có tài sản chung nhưng bà N không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Ông V xác định không có nợ chung nhưng bà N không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 5, 6, 7 và Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986;

Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 57 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn V đối với bị đơn bà Vũ Thị N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn V ly hôn bà Vũ Thị N.

2. Về con chung: Con chung anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 02/9/1993, chị Nguyễn Thị L, sinh ngày 28/11/1995 và chị Nguyễn Thị D, sinh ngày 27/7/1998 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn V phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001831 ngày 01/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ông Nguyễn Văn V đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ