- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 157/2022/DS-ST Ngày: 08-9-2022 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒAÁN NHÂNDÂN QUẬN11, THÀNHPHỐHỒCHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hoài Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Phương. 2. Ông Lý Thành Chung. Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân - Thư ký Tòa án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên. Ngày 08 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2021/TB-TLVA ngày 20 tháng 5 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2022/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2022/QĐST-DS ngày 19/8/2022, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S, địa chỉ: đường NKKN, Phường T, Quận B, Thành phố H. Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Trường T, sinh năm 1994; địa chỉ: đường NKKN, Phường T, Quận B, Thành phố H là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 923/2020/UQ-TTT ngày 18/6/2020). (có đơn xin xét xử vắng mặt) Bị đơn: Ông Nguyễn Trung B, sinh năm 1973; địa chỉ: đường LBT, Phường MB, Quận XI1, Thành phố H. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 18/6/2020, bản tự khai và các biên bản hòa giải, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Trường T trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với ông Nguyễn Trung B ngày 28/12/2007 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ vào thu nhập của ông B, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 (mười triệu) đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông B đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, ông B đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 16.513.560 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc và nhắc nhở tuy nhiên đến nay ông B vẫn chưa thanh toán đối với khoản nợ đã vay.
Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu ông B thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 25/3/2020 như sau:
Nợ gốc: 3.673.686 đồng và nợ lãi quá hạn là 12.019.564 đồng. Tổng số tiền là 15.693.250 đồng, ngoài ra ông B còn phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 25/3/2020 cho đến khi thanh toán xong số nợ theo lãi suất quy định trong hợp đồng.
* Đối với bị đơn ông Nguyễn Trung B
Theo vào Kết quả xác minh của Công an Phường 13, Quận 11: “Đương sự Nguyễn Trung B, sinh năm 1973; hộ khẩu thường trú: đường LBT, Phường MB, Quận XI1, Thành phố H. Tạm trú: PTC, phường AL, quận BT, Thành phố H. Hiện không có mặt tại địa phương”. Kết quả xác minh của Công an Phường An Lạc, quận Bình Tân: “Trên địa bàn phường AL, quận BT không có địa chỉ PTC, phường AL, quận BT, Thành phố H” Tòa án nhân dân Quận 11 đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng phía bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã không đến Tòa án để giải quyết. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi nhận ý kiến đối với phía bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được.
* Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng có gửi bảng tính lãi đến ngày 08/9/2022, ông B còn nợ là nợ gốc: 3.673.686 đồng và nợ lãi quá hạn là 15.273.880 đồng. Tổng số tiền là 18.947.566 đồng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật như sau:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán chưa đảm bảo thời hạn tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho nguyên đơn, bị đơn; chưa đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; sau khi nghe đương sự có mặt tại phiên tòa trình bày, căn cứ vào nội dung tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Trung B về hợp đồng vay tài sản nên đây là vụ án tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Trung B có nơi cư trú cuối cùng tại Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo hướng dẫn tại điểm e khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 19/8/2022 và 8 giờ 00 phút ngày 08/9/2022, bị đơn đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về yêu cầu số tiền nợ của nguyên đơn:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Thông báo về việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn, nhưng phía bị đơn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ chứng minh đã trả số tiền vốn và lãi nêu trên cho nguyên đơn. Như vậy bị đơn đã tự tước bỏ quyền chứng minh và cung cấp chứng cứ của mình nên căn cứ theo Khoản 2, Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Căn cứ vào Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) được ký giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Trung B ngày 08/8/2012. Đây là giao dịch dân sự trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận và bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông B đã vi phạm về nghĩa vụ thanh toán; việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông B trả toàn bộ số nợ còn lại và tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 và Khoản 1, 2 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận là phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở buộc ông Nguyễn Trung B có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 08/9/2022 là 18.947.566 đồng, nợ gốc: 3.673.686 đồng và nợ lãi quá hạn là 15.273.880 đồng, ngoài ra ông B còn phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 10/9/2022 cho đến khi thanh toán xong số nợ theo lãi suất quy định trong hợp đồng.
Về án phí:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 947.378 đồng được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự là đồng.
Xét về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 91 của Luật Tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Buộc ông Nguyễn Trung B có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến 08/9/2022 là 18.947.566 (mười tám triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm sáu mươi sáu) đồng, nợ gốc: 3.673.686 (ba triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn sáu trăm tám mươi sáu) đồng và nợ lãi quá hạn là 15.273.880 (mười lăm triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn tám trăm tám mươi) đồng, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Trung B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí:
Ông Nguyễn Trung B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 947.378 (chín trăm bốn mươi bảy nghìn ba trăm bảy mươi tám) đồng.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 392.331 (Ba trăm chín mươi hai nghìn ba trăm ba mươi mốt) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0015695 ngày 07/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 11; - Chi cục THADS Quận 11; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hoài |