- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn Nguyễn Võ Thùy T - Trần Văn D"
- Tòa quyết gì? Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Võ Thùy T và anh Trần Văn D
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 157 / 2019/HNGĐ-ST Ngày: 10-12- 2019 V/v "tranh chấp ly hôn, nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diện
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hồng Sen
2. Ông Trần Văn Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Long Hồ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên toà:
Không tham gia
Trong ngày 10 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 454/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2019 về việc "tranh chấp ly hôn, quyền nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Võ Thùy T, sinh năm 1978 (xin vắng)
Địa chỉ: số 4A/1 ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long
Bị đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1972 (Vắng)
số 4A/1 ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 18/9/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Võ Thùy T trình bày: Chị và anh D qua quen biết đi đến kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 14/10/2003. Quá trình chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2014 thì vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn do anh D hay ghen vô cớ, nhiều lần chửi chị, chị đã khuyên can anh D nhiều lần nhưng anh không thay đổi. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trần Văn D
Về con chung: có 03 con chung tên Trần Nhựt B1, sinh ngày 10/12/1997, Trần Thị Xuân M, sinh ngày 07/01/2000 và Trần Thị Mai A1, sinh ngày 27/5/2006. Hiện cháu B1 và cháu M đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn chị T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu A1, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: chị khai không có nợ chung.
- Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành công khai chứng cứ đúng theo trình tự thủ tục tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án tống đạt thủ tục tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật và cũng không gửi bản khai ý kiến cho tòa án
* Tại phiên toà hôm nay:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Võ Thùy T có đơn xin xét xử vắng mặt nộp trực tiếp cho tòa án ngày 09/12/2019, Chị có ý kiến như sau: Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh D có 03 con chung tên Trần Nhựt B1, sinh ngày 10/12/1997, Trần Thị Xuân M, sinh ngày 07/01/2000 và Trần Thị Mai A1, sinh ngày 27/5/2006. Hiện cháu B1 và cháu M đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn chị T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu A1, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: chị khai không có nợ chung. Ngoài ra không cung cấp chứng cứ gì thêm.
- Bị đơn anh Trần Văn D vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Võ Thùy T có đơn xin giải quyết vắng mặt; anh Trần Văn D vắng mặt không lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên.
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh D tiến đến hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của Chị T: Chị và anh D đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời trình bày của chị T trong hồ sơ vụ án: Cuộc sống vợ chồng của anh, chị mâu thuẫn trầm trọng, anh D thường xuyên mắng chửi chị và theo Văn bản xác nhận tình trạng mâu thuẫn ngày 23/10/2019 của chị T được UBND xã B xác nhận tình trạng mâu thuẫn giữa chị T và anh D theo trình bày của chị T là đúng, anh D có tính tình cọc cằn đối với vợ con, sống cá biệt với mọi người xung quanh và không quan tâm đến việc chấp hành các chủ trương của địa phương. Tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc; giúp đở nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc gia đình”. Chị và anh D không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau cùng chia sẽ công việc gia đình và Tại Khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân gia đình quy định: “1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Tuy giữa chị T và anh D không có xảy ra tình trạng bạo lực gia đình và cũng không có việc bên nào vi phạm nghiêm trọng quyền nghĩa vụ của bên còn lại nhưng tình trạng hôn nhân của Chị và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng làm cho mục đích hôn nhân không đạt được. Tại đơn xin vắng mặt ngày 09/12/2019 chị T vẫn giữ yêu cầu ly hôn với anh D nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là có cơ sở.
Về con chung: có 03 con chung tên Trần Nhựt B1, sinh ngày 10/12/1997, Trần Thị Xuân M, sinh ngày 07/01/2000 và Trần Thị Mai Anh, sinh ngày 27/5/2006. Hiện cháu B1 và cháu M đã trưởng thành, không đặt ra xem xét, giải quyết. Xét chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A1, và theo bản tự khai ngày 22/10/2019 cháu A1 cũng có nguyện vọng được sống với chị T. Mặt khác, hiện nay cháu Anh đang sống cùng với chị T và được chị chăm sóc chu đáo về mọi mặt, để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý của trẻ nên Hội đồng xét xử giao cháu Trần Thị Mai Anh cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở. Chị T không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra giải quyết.
Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp anh D lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh D. Ngược lại chị T cùng các thành viên gia đình Chị không được cản trở anh D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về tài sản chung: không đặt ra giải quyết; về nợ chung: đương sự khai không có nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: chị Nguyễn Võ Thùy T phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật, có trừ đi tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Võ Thùy T và anh Trần Văn D
2. Về con chung: Cháu Trần Nhựt B1, sinh ngày 10/12/1997 và Trần Thị Xuân M, sinh ngày 07/01/2000 đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Giao cháu Trần Thị Mai Anh, sinh ngày 27/5/2006 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp anh D lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh D. Ngược lại chị T cùng các thành viên gia đình Chị không được cản trở anh D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: không đặt ra giải quyết; về nợ chung: đương sự khai không có nên không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Võ Thùy T nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), tiền án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0005242 ngày 23/9/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKS cùng cấp; - Chi cục THADS HLH; - Các đương sự; - UBND xã B; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Diện |