vanban.org

Bản án 157/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 24/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 15 (mƣời lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/5/2018. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy đối với 0,278 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 316 /KLGĐ-PC54 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số:157/2018/HSST
Ngày: 24/8/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG – TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Mạnh Tuân

2/ Ông Nguyễn Công Hoan

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hải - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dƣơng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tƣởng - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 24 tháng 8 năm 2018, tại nhà văn hóa khu 4, phƣờng Thanh Bình, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng, xét xử sơ thẩm lƣu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 138/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 153/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh Đ - sinh năm 1979 tại Hải Dƣơng.

Nơi cƣ trú: Số nhà 9 ngõ 87, Khu 4, phƣờng NC, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ninh Dƣơng Ph và bà Nguyễn Thị Tr. Có vợ là Lê Thị H (đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 1998;

Tiền án, tiền sự: Chƣa;

Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/5/2018, tạm giam ngày 10/5/2018 tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dƣơng. (Có mặt tại phiên tòa).

- Người làm chứng:

+ Anh Lê Văn Tr, sinh năm 1991.

Địa chỉ: P.103 khu tập thể BT, phƣờng TB, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng. Vắng mặt.

+ Anh Lƣu Văn T, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Thôn Tr, thị trấn LC, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Minh Đ là đối tƣợng có sử dụng chất ma túy tổng hợp. Khoảng 21h00’ ngày 04/5/2018, Đ đi ra khu vực đê bến Hàn thuộc phƣờng Bình Hàn, thành phố Hải Dƣơng mua đƣợc 01 gói ma túy với số tiền 200.000 đồng của một nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) rồi cầm trong tay trái đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 21h40’ cùng ngày, khi Đ đang đi ở lề đƣờng Quốc lộ 5 thuộc khu 4, phƣờng Bình Hàn, thành phố Hải Dƣơng thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC47) - Công an tỉnh Hải Dƣơng phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong bàn tay trái của Đ 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, trƣớc sự chứng kiến của anh Lƣu Văn T và anh Lê Minh Ch.

Tại Kết luận giám định số 316/KLGĐ- PC54 ngày 07/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận:

“Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng ghi thu của Nguyễn Minh Đ gửi đến giám định có tổng khối lượng là: 0,353gam (Không phẩy ba trăm năm mươi ba gam, là loại Methamphetamine.

Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT: 67, Nghị định 82/2013/NĐ- CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Về vật chứng: Đối với 0,278 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 316 /KLGĐ-PC54 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dƣơng đƣợc quản lý tại kho vật chứng của Công an thành phố Hải Dƣơng chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 149/CT-VKSTPHD ngày 26/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố Nguyễn Minh Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ tại cơ quan điều tra, xác định Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ bản cáo trạng đã nêu là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng thực hành quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Về điều luật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/5/2018;

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp và tài sản.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 0,278 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 316 /KLGĐ-PC54 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dƣơng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dƣơng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, ngƣời tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dƣơng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng nhƣ đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định hành vi và điều khoản xét xử: Tại Cơ quan điều tra, cũng nhƣ trƣớc phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với nội dung biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, lời khai của ngƣời làm chứng, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21h40’ ngày 04/5/2018, tại lề đƣờng Quốc lộ 5 thuộc Khu 4 phƣờng Bình Hàn, thành phố Hải Dƣơng, Nguyễn Minh Đ đang cất giấu trái phép trong tay phải 0,353 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC47) - Công an tỉnh Hải Dƣơng phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo Nguyễn Minh Đ có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma túy là chất bị Nhà nƣớc cấm lƣu hành nhƣng vẫn cố ý cất giấu trái phép 0,353 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội bởi lẽ đã trực tiếp xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, xâm hại đến sức khỏe và sự phát triển của loài ngƣời. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn tƣơng xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung về tội phạm trong xã hội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp, tài sản riêng và không có nguồn thu nhập nào khác nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,278 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 316 /KLGĐ-PC54 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dƣơng là vật cấm tàng trữ, lƣu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác: Không làm rõ đƣợc ngƣời bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Minh Đ nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 15 (mƣời lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/5/2018.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy đối với 0,278 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 316 /KLGĐ-PC54 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dƣơng.

(Tình trạng vật chứng, chủng loại, số lượng, trọng lượng, đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ