vanban.org

Bản án 157/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 04/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài s n”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ 10 mư i tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách là 20 hai mươi tháng kể từ ngày Tòa tuyên án. Giao bị cáo Đỗ Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã Đồng Việt, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài s n”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2018/HSST
Ngày 04/10/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Chi.

Các hội thẩm nhân dân: Bà H Th Việ H a; à Nguyễn Th Xu n Th y

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyên - Kiểm sát viên.

Ngày 04/10/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 153/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2018/HSST-QĐ ngày 20/9/2018 đối với bị cáo:

Họ và ên: Đỗ Văn Đ, sinh năm 1998; Nơi ĐKHKTT và cư trú tại: Thôn A, xã B, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12. Họ và tên bố: Đỗ Văn N, Sinh năm: 1968; Họ và tên mẹ: Trần Thị T, Sinh năm: 1975. Danh chỉ bản số 229 lập ngày 15/6/2018 tại công an quận Bắc Từ Liêm. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa)

Người hại: anh Lê Minh Khánh , sinh năm 1999, Nơi ĐKHKTT: Tổ 2, khu Chiến Thắng, Thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.(vắng mặt tại phiên tòa).

NHẬN THẤY

Bị cáo Đỗ Văn Đ bị Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố về hành vi phạm tội như sau: Anh Lê Minh Khánh và Đỗ Văn Đ cùng là nhân viên tại nhà hàng Nhất Cá ở số 31 ngõ 100 Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Khoảng 3h00’ ngày 08/5/2018, anh Khánh cùng Đ đi chơi về, Đ xin ngủ nhờ ở phòng trọ của anh Khánh tại ngách 37 ngõ 43 đường Cổ Nhuế, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội, anh Khánh đồng ý. Trước khi đi ngủ, Đ thấy anh Khánh để 2 chiếc điện thoại di động gồm 01 chiếc điện thoại Iphone 6 màu vàng lắp sim số 0969029013 và 01 điện thoại Iphone 7 plus màu hồng ở đầu giường nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại. Khoảng 7h00’ cùng ngày, Đ tỉnh dậy, thấy anh Khánh vẫn đang ngủ nên Đ dùng tay phải lấy 2 chiếc điện thoại của anh Khánh và chiếc điện thoại Iphone 6 plus của Đ, tắt nguồn cả ba chiếc điện thoại, giấu vào quần lót đang mặc rồi đi ngủ tiếp. Đến khoảng 10h cùng ngày, anh Khánh tỉnh dậy và phát hiện bị mất điện thoại, Đ cũng nói bị mất điện thoại nên anh Khánh cùng Đ đến Công an phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội trình báo.

Đến 13h00’ cùng ngày, Đ mang chiếc điện thoại Iphone 6 trộm cắp của anh Khánh về quê ở Bắc Giang bán cho anh Trần Văn Việt (sinh năm 1981,ĐKHKTT: Thôn Bắc, xã Đồng Việt, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) được 1.500.000 đồng. Sau khi bán xong, Đ quay về phòng trọ của mình ở số 5 ngõ 59 đường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội. Chiếc điện thoại Iphone 7 plus trộm cắp của anh Khánh, Đ cất giấu ở trên tầng thượng của nhà trọ.

Sau khi bị mất điện thoại, anh Khánh thấy Đ vẫn sử dụng chiếc điện thoại mà Đ đã trình báo bị mất nên nghi ngờ Đ lấy trộm điện thoại và báo Công an phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội. Công an phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội đã mời Đỗ Văn Đ đến làm việc và Đ đã khai nhận hành vi vi phạm của mình, đồng thời giao nộp chiếc điện thoại Iphone 7 plus đã trộm cắp của anh Khánh và chiếc điện thoại Iphone 6 plus của mình. Đến 22h00’ ngày 09/5/2018, Công an phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội đã bàn giao đối tượng cùng với tang vật của vụ án cho Công an phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Ngày 09/5/2018, cậu ruột của Đ là anh Trần Văn Thuận (Sinh năm 1978, ĐKHKTT: Thôn Bến, xã Đồng Việt, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) đã gặp anh Trần Văn Việt chuộc lại chiếc điện thoại Iphone 6 mà Đ đã bán cho anh Việt. Ngày 10/5/2018, anh Thuận đã giao nộp chiếc điện thoại trên cho Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội

Vật chứng thu giữ:

-Thu giữ của Đỗ Văn Đ: 01 điện thoại Iphone 6 plus 64 GB màu vàng, số imei 352066063996057 lắp sim số 01687889090 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 7 plus màu hồng có số imei: 353809086993869; Số tiền 600.000 đồng ;

- Thu giữ của anh Trần Văn Thuận: 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng, số imei 354445064341331, không có sim .

Ngày 15/5/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 55. Tại Kết luận định giá tài sản số 47/KLĐGTS ngày 21/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận Bắc Từ Liêm kết luận: - 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, số imei 354445064341331 trị giá 4.000.000 đồng; - 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu hồng, số imei 353809086993869 trị giá 11.000.000 đồng .

Đối với anh Trần Văn Việt: mua chiếc điện thoại di động Iphone 6 của Đ nhưng không biết nguồn gốc chiếc điện thoại là do Đ trộm cắp mà có nên Công an quận Bắc Từ Liêm không có căn cứ để xử lý trong vụ án .

Về dân sự: Ngày 10/7/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định xử lý vật chứng số 73, trao trả chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu vàng và chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus 32GB màu hồng cho anh Lê Minh Khánh. Anh Khánh đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đỗ Văn Đ. Anh Trần Văn Thuận chuộc lại chiếc điện thoại cho Đỗ Văn Đ nhưng không yêu cầu Đ bồi thường về dân sự.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Văn Đ đã khai nhận hành vi như nêu trên và khai việc Đ đến Cơ quan Công an trình báo với anh Khánh là để anh Khánh không nghi ngờ Đ trộm cắp tài sản.

Tại cáo trạng số 149/CT-VKSBTL ngày 27/8/2019 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm quyết định truy tố bị cáo Đỗ Văn Đ về tội: “trộm cắp tài s n“ theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận tội như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với số tiền 600.000 đồng bị thu giữ bị cáo khai là tiền có được sau khi bán điện thoại. Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đ diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa sau khi phân tích đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Điều 65; điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ từ 10-15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20-30 tháng kể từ ngày Tòa tuyên án. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng hình sự : Các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an quận Bắc Từ Liêm, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi , quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về căn cứ buộc tội :

Khoảng 7h00’ ngày 08/5/2018, tại phòng trọ của anh Lê Minh Khánh ở ngách 37 ngõ 43 đường Cổ Nhuế, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội, Đỗ Văn Đ có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng trị giá 4.000.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 7 plus màu hồng trị giá 11.000.000 đồng của anh Lê Minh Khánh. Tổng giá trị tài sản Đ trộm cắp là 15.000.000 đồng. Tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại.

Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài s n” được quy định tại khoản 1 điều 173Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ coi thường pháp luật, coi thường quyền tài sản của người khác.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tác động gia đình để khắc phục hậu quả trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm b,s, i khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự . Bị cáo là sinh viên có nơi cư trú rõ ràng vậy nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cho bị cáo cải tạo giáo dục ngoài xã hội cũng đủ giáo bị cáo trở thành công dân tốt.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là sinh viên không có thu nhập. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu về dân sự nên Tòa không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công số tiền 600.000 đồng thu giữ của Đỗ Văn Đ là số tiền thu lợi bất chính; Hoàn trả cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 6 plus 64 GB màu vàng, số imei 352066063996057 lắp sim số 01687889090 đã qua sử dụng; vỡ màn hình vì không liên quan đến vụ án.

Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài s n”.

1.Áp dụng Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Điều 65; điểm b,s,i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ 10 mư i tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách là 20 hai mươi tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.

Giao bị cáo Đỗ Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã Đồng Việt, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ Luật Hình sự, Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công số tiền 600.000 đồng thu giữ của Đỗ Văn Đ; Trả cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 6 plus 64 GB màu vàng, số imei 352066063996057 lắp sim số 01687889090 đã qua sử dụng; vỡ màn hình. (Theo biên bản giao vật chứng số 164 ngày 31/8/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm )

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, nộp án phí lệ phí Tòa án

Bị cáo Đỗ Văn Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ