vanban.org

Bản án 157/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 12/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Nguyễn Hữu H 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 157/2018/HSST Tuyên án 12/09/2018
Phúc thẩm Bản án 720/2018/HSPT-QĐ Tuyên án 07/11/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Nguyễn Hữu H 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2018/HSST
Ngày 12 tháng 9 năm 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Phan Thị Hà

2. Bà Vũ Thị Thêu

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:

Ông Trần Mạnh Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/2018/TL - HSST ngày 24 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2018 đối với:

* Bị cáo: Nguyễn Hữu H, sinh ngày 27 tháng 12 năm 1993; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Hữu S; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị D; Vợ là Lò Thị T, sinh năm 1997; Gia đình có 2 anh chị em, bị cáo là con cả; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 17/5/2018; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 131 ngày 22/5/2018 của Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa);

- Bị hại: Anh Nguyễn Sơn Hải, sinh năm 1976; Hộ khẩu thường trú: Số 87/84 phố Ngọc Khánh, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. (anh Hải có đơn xét xử vắng mặt);

- Người làm chứng: Nguyễn Chí Thanh, sinh ngày 31 tháng 3 năm 2001; Nơi cư trú: Thôn Tiên Tảo, xã Việt Long, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Hữu H đã chuẩn bị vam phá khóa để đi trộm cắp xe máy. Khoảng 20 giờ 00 ngày 24 tháng 4 năm 2018, khi đi bộ đến trước cửa số nhà 87/84 phố Ngọc Khánh, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Hà thấy 01 xe máy Wave BKS 29B1 – 61673 có số khung 744089, số máy 5744268 của anh Nguyễn Sơn Hải. sinh năm 1976; Cư trú số 87/84 Ngọc Khánh dựng trước cửa nhà không có ai trông giữ, xe có khóa cổ nhưng không khóa càng. H liền tiến lại gần dùng tay phải đưa vam phá khóa vào trong ổ và xoay mạnh theo chiều kim đồng hồ để phá khóa. Sau khi phá được ổ khóa, Hà ngồi lên xe, nổ máy rồi phóng xe bỏ chạy. Trên đường về Sóc Sơn, khi đi qua Cầu Cà Lồ, H vứt biển kiểm soát xuống sông. Đến sáng ngày 25/04/2018, Hà đi đến khu vực phố Trần Nhật Duật, mua 01 BKS 99D1 – 20056 của một người không quen biết, lắp vào chiếc xe trên để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 00, ngày 15 tháng 5 năm 2018, khi đang dùng xe máy chở Nguyễn Chí Thanh, sinh năm 2001; Cư trú: Thôn Tiên Tảo, xã Việt Long, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đi từ đường Yên Phụ về hướng quận Long Biên thì Hà và Thanh bị tổ công tác 141 – Công an thành phố Hà Nội kiểm tra, phát hiện và thu giữ chiếc xe trên. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của Hà 01 vam phá khóa, 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Hữu H, 01 điện thoại Nokia 1202 và 01 ví da màu đen. Thu giữ của Thanh 03 thanh kim loại nhỏ có hình dạng một đầu được mài det, một đầu hình lục giác. Tổ công tác đã đưa H và Thanh về trụ sở để làm rõ.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu H đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với Nguyễn Chí Thanh, quá trình điều tra xác định Thanh không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo H nên Cơ quan điều tra không tiến hành xử lý đối với Thanh.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả chiếc xe máy Wave có số khung 744089, số máy 5744268 cho anh Nguyễn Sơn Hải. Anh Hải đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả 01 ví da, 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Hữu H và 01 điện thoại Nokia 1202 cho Nguyễn Hữu H do những tài sản trên không liên quan đến hành vi trộm cắp của Hà.

Theo Kết luận định giá tài sản số: 60/KL – HD ngày 28 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND quận Long Biên, kết luận:

01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc BKS 29B1 – 61673 có trị giá 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).

Cáo trạng số 154/CT - VKS ngày 08 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự, có thái độ khai báo thành khẩn.

Đề nghị về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) biển kiểm soát 99D1- 20056; 01 (một) thanh kim loại chữ L dài khoảng 15cm; 03 (ba) thanh kim loại dài 07cm, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10 tháng 8 năm 2018.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Ba Đình đã trả lại cho anh Nguyễn Sơn Hải 01 xe máy Honda Wave màu xanh có số khung 744089, số máy 5744268, anh Sơn đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì về dân sự.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố không có tranh luận gì. Nội dung lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, sớm trở về với gia đình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, về thủ tục quy định của bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoản 20 giờ, ngày 24 tháng 4 năm 2018, tại trước cửa số nhà 87/84 phố Ngọc Khánh, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe máy Wave BKS 29B1 – 61673, số khung 744089, số máy 5744268 có trị giá 15.000.000đ của anh Nguyễn Sơn Hải. Đến 20 giờ 00 ngày 15 tháng 5 năm 2018 bị cáo đang điều khiển xe máy trên địa bàn quận Long Biên thì bị bắt trong trường hợp khẩn cấp. Tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho bị hại.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; lời khai của bị hại; người làm chứng; kết luận định giá tài sản; biên bản trả lại tài sản; biên bản giao, nhận vật chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thông qua diễn biến vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa cho thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản, gây mất an toàn và trật tự công cộng được luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị, nhưng do động cơ tham lam muốn lấy tài sản bán có tiền tiêu xài, bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Sau khi trộm cắp được tài sản bị cáo có ý định tiêu thụ tài sản cho người khác nhưng chưa thực hiện được, khi bị bắt bị cáo vẫn tàng trữ công cụ phạm tội là vam phá khóa, thể hiện tiếp tục tìm người nào sơ hở không quản lý tài sản là phạm tội. Về nhân thân bị cáo không có tiền sự, tiền sự. Chính vì lẽ đó, cần thiết phải có hình phạt tương xứng áp dụng đối với bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa làm gương cho người khác biết tôn trọng pháp luật.

Khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy thái độ của bị cáo tại phiên tòa là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây cũng là những tình tiết giảm nhẹ nên cần thiết áp dụng Điểm i, s Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự và có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm i, Điểm s Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015;

- Xử phạt: Nguyễn Hữu H 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17 tháng 5 năm 2018 đến ngày 22 tháng 5 năm 2018;

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) biển kiểm soát 99D1- 20056; 01 (một) thanh kim loại chữ L dài khoảng 15cm; 03 (ba) thanh kim loại dài 07cm, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10 tháng 8 năm 2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 12 tháng 9 năm 2018. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ