- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văm T cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm của người bị hại
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 157/2018/HS-PT Ngày: 15 - 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh
Các Thẩm phán: Ông Thái Văn Chấn
Ông Lý Ngọc Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Phước Sang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông
Trần Chí Tâm - Kiểm sát viên
Trong ngày 15 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 133/2018/TLPT-HS ngày 21
tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của người bị hại
Ngô Văn Ng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2018/HS-ST ngày 14 tháng 8
năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 20/8/1983 tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: T5, khóm
VT3, phường NS, thành phố CĐ, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ
học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị S (đều đã chết); có vợ là Ngô Thị
A và có 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị cáo được tại ngoại và có mặt
tại phiên tòa.
- Người bị hại có kháng cáo: Ông Ngô Văn Ng, sinh năm 1971; nơi cư trú:
T3, khóm VT2, phường NS, thành phố CĐ, tỉnh An Giang (có mặt)
-
:
1. Bà Trần Thị Ngọc Tr, sinh năm 1967
Nơi cư trú: T3, khóm VT2, phường NS, thành phố CĐ, tỉnh An Giang (Có
mặt)
2. Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1972
Nơi cư trú: T15, khóm VĐ, phường NS, thành phố CĐ, tỉnh An Giang (Vắng
mặt)
3. Ông Lương Xuân Th, sinh năm 1959
Nơi cư trú: T26, khóm VT1, phường NS, thành phố CĐ, tỉnh An Giang
(Vắng mặt)
Trong vụ án, bị cáo không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 27/02/2018, do có mâu thuẫn trước đó, Nguyễn Văn T
đang dọn sạp bán mắm tại khu vực chợ VĐ (thuộc T21, khóm VĐ, phường NS, thành phố CĐ, tỉnh An Giang) thì ông Ngô Văn Ng cho rằng sạp của T kê đồ che khuất tầm nhìn ảnh hưởng đến kinh doanh của ông Ng nên các bên phát sinh cự cãi. Lúc này, T đang đứng trên sạp mắm của T, ông Ng bước lên đứng đối diện cách T 01 mét, trong lúc cự cãi T dùng 01 cây sắt dẹp (dài khoảng 60cm, rộng 3cm, dày 0,3cm) cầm trên tay phải đánh liên tiếp nhiều cái trúng vào má bên trái và thắt lưng của ông Ng thì được bà Trần Thị Ngọc Tr (vợ ông Ng) và ông Nguyễn Thanh S can ngăn nên T bỏ đi. Sau đó, ông Ng được đưa đi bệnh viện cấp cứu. Ngày 28/02/2018, ông Ng có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với T.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng là cây sắt T dùng
để đánh ông Ng nhưng không thu được.
Bản kết luận giám định pháp y số 58/18/TgT ngày 30/3/2018 của Tổ chức
giám định pháp y - Sở y tế tỉnh An Giang giám định tỉ lệ thương tích của ông Ngô Văn Ng, sinh năm 1971, kết luận:
- Sẹo từ má đến vành tai trái kích thước 06 x 02 cm + 0,1 x 0,1cm, sẹo mềm,
phẳng, hồng, không liên tục (tỷ lệ thương tật 07%);
- Sẹo thắt lưng trái kích thước 1,5 x 0,5cm (tỷ lệ thương tật 01%);
- Gãy kín xương mắt cá ngoài chân trái đã điều trị bảo tồn (tỷ lệ thương
tật 06%).
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 14%.
Ngày 12/4/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc đã
ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can, Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Văn T.
Bản Cáo trạng số 44/CT-VKS-CĐ ngày 08 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2018/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2018
của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1
Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 2
Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về
án treo;
Xử phạt: Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian
thử thách là 02 (hai) năm, được tính kể từ ngày tuyên án 14/8/2018.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng,
án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 28/8/2018, người bị hại Ngô Văn Ng có đơn kháng cáo với nội dung:
Đề nghị hủy án sơ thẩm vì ông cho rằng bản án sơ thẩm chưa xem xét trách nhiệm
hình sự về hậu quả đã gây ra cho ông tại vùng mắt cá chân cũng như ông không
được nhận thông báo kết quả điều tra và việc truy tố người gây ra thương tích
cho ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và cho rằng cấp sơ
thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, mức án
và phần trách nhiệm dân sự mà cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với hành vi của
bị cáo nên bị cáo không kháng cáo. Đối với yêu cầu kháng cáo của người bị hại
xin Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người bị hại Ngô Văn Ng trình bày: Cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của
bị cáo để xác định phần thương tích gãy xương mắt cá ngoài chân trái là do ông tự
té từ trên sạp xuống đất chứ không phải do bị cáo đánh bằng thanh sắt nên không
khởi tố phần thương tích này là không đúng sự thật vụ án. Kết quả điều tra và việc
truy tố Nguyễn Văn T không được thông báo cho ông theo quy định. Đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.
Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan
điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử: Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo
về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm
2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 với mức hình phạt 01 năm tù nhưng cho
hưởng án treo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và tương xứng với hành vi phạm
tội của bị cáo. Người bị hại kháng cáo đề nghị hủy án sơ thẩm nhưng không nêu
được tình tiết gì mới so với những gì mà cấp sơ thẩm đã xem xét nên đề nghị giữ
nguyên án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, tại
phiên tòa, bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được bị cáo sẽ bồi thường thêm cho bị
hại 10.000.000 đồng, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không trái
quy định của pháp luật và đạo đức xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
sự thỏa thuận này của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Người bị hại Ngô Văn Ng nộp đơn kháng cáo ngày 28/8/2018. Xét thấy,
người bị hại nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung vụ án:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp
với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm; với lời khai của những người làm chứng về diễn biến của vụ án; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường ngày 27/3/2018 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc lập; Kết luận giám định pháp y về thương tích số 58/18/TgT ngày 30/3/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang. Ngoài ra, còn phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đối với lời khai của bị hại cho rằng bị cáo đã đánh trúng mắt cá chân gây gãy kín xương mắt cá nhưng ngoài lời khai của bị hại không có chứng cứ nào khác để chứng minh. Mặc dù trong vụ án có 03 nhân chứng là Lương Xuân Th, Trần Thị Ngọc Tr và Nguyễn Văn S nhưng các nhân chứng này cũng không nhìn thấy rõ diễn biến sự việc cũng như hành vi cụ thể của bị cáo khi tấn công bị hại; vật chứng của vụ án không thu hồi được, nếu vật chứng như theo miêu tả của bị cáo và bị hại thì rất khó để gây ra thương tích gãy kín xương mắt cá, đồng thời tư thế bị cáo tấn công bị hại rất khó gây ra phần thương tích tại vùng mắt cá chân. Do đó chỉ có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 06 giờ ngày 27/02/2018, tại khu vực chợ VĐ (thuộc T21, khóm VĐ, phường NS, thành phố CĐ, tỉnh An Giang) trong lúc cự cãi, bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi cầm 01 cây sắt dẹp (dài khoảng 60cm, rộng 3cm, dày 0,3cm) trên tay phải đánh liên tiếp nhiều cái trúng vào má bên trái và thắt lưng của ông Ngô Văn Ng. Hậu quả làm ông Ngô Văn Ng bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ thương tật 08%. Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và Điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Việc bị hại cho rằng không nhận được kết quả điều tra của Cơ quan điều tra
và Cáo trạng của Viện kiểm sát là vi phạm pháp luật tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy bị hại Ngô Văn Ng đã được sao chụp Kết luận điều tra và Cáo trạng vào ngày 18/7/2018, mặc dù có vi phạm về thời gian được biết kết quả điều tra và việc truy tố nhưng điều này không làm thay đổi bản chất vụ án nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu hủy bản án sơ thẩm của người bị hại. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm cũng cần rút kinh nghiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ giao hoặc thông báo kết quả điều tra, quyết định truy tố theo quy định tại khoản 4 Điều 232 và khoản 2 Điều 240 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm e khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao – Bộ Công an – Bộ Quốc phòng quy định việc phố hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong
thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ điều tra
bổ sung.
Tính mạng, sức khỏe của con người là vốn quý của xã hội, được mọi người
tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức
khỏe của người khác một cách trái pháp luật phải được phát hiện kịp thời và xử lý
nghiêm minh. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra, khi
giữa bị cáo và người bị hại xảy ra mâu thuẫn thì bị cáo phải tìm biện pháp tốt nhất
để giải quyết mâu thuẫn sao cho phù hợp với quy định của pháp luật hoặc nhờ cơ
quan có thẩm quyền giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp của các bên; bảo
vệ mối quan hệ ruột thịt giữa gia đình bị cáo và bị hại; làm tấm gương tốt cho con
cái noi theo. Không làm được điều này, với bản tính cố chấp, hung hăng nên bị
cáo chọn giải pháp xấu nhất để giải quyết mâu thuẫn khi cầm cây sắt (hung khí
nguy hiểm) đánh liên tiếp nhiều cái vào người bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy
hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại, thể hiện sự
hung hãn, xem thường pháp luật và xem thường sức khỏe của người khác; hành vi
này còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, làm cho nhân dân tại nơi xảy ra vụ
án hoang mang lo sợ hễ có mâu thuẫn, tranh chấp là xảy ra dùng vũ lực để giải
quyết, làm ảnh hưởng xấu đến đời sống bình thường của xã hội. Vì vậy, đối với bị
cáo cần phải có một mức án nghiêm mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo
và phòng ngừa chung cho xã hội.
Trong quá trình giải quyết vụ án và quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem
xét toàn diện vụ án, phân tích, đánh giá đầy đủ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên
đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý
gây thương tích” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và tương xứng với hành vi
phạm tội của bị cáo. Mặt khác, bị hại kháng cáo yêu cầu hủy án sơ thẩm để điều
tra, xét xử lại nhưng cũng không nêu được chứng cứ nào mới so với những gì mà
cấp sơ thẩm đã xét xử nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem
xét. Do đó, cần giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm
10.000.000 đồng, yêu cầu này bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự
thỏa thuận này.
Người bị hại, bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm của người bị hại
Ngô Văn Ng.
1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về trách nhiệm hình sự.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65
Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố
ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, được tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/8/2018).
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường NS, thành phố CĐ,
tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo
quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Sửa án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự:
Nguyễn Văn T phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại Ngô Văn
Ng số tiền 30.426.660 đồng, khấu trừ số tiền mà bị cáo đã bồi thường 10.700.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường thêm số tiền 19.726.660 đồng (mười chín triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi đồng).
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm.
4. Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; - VKS-ND tỉnh An Giang; - VKS-ND thành phố Châu Đốc; - TAND thành phố Châu Đốc; - Công an thành phố Châu Đốc; - Chi cục THA.DS thành phố Châu Đốc; - UBND phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc; - Bị cáo; - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án hình sự; - PV 27; - Sở Tư pháp; - Văn phòng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Linh |