vanban.org

Bản án 157/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hứa Thị Thanh T về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Đặng Minh T.

Về hôn nhân: Chị Hứa Thị Thanh T được ly hôn với anh Đặng Minh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 154, quyển số 01/2001 ngày 31/12/2001 do Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp). Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hứa Thị Thanh T tranh chấp ly hôn với anh Đặng Minh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hứa Thị Thanh T về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Đặng Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2018/HNGĐ-ST
Ngày 29-11-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Tâm

2. Bà Châu Hồng Nga

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1000/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hứa Thị Thanh T, sinh năm 1979; thường trú: Số 146/3/19, Nguyễn Thái H, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Đặng Minh T, sinh năm 1971; thường trú: Số 146/3/19, Nguyễn Thái H, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người tham gia tố tụng khác

Người làm chứng:

1. Anh Hứa Thanh L, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ 25C, khu phố 4, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Hoa Lệ Ư, sinh năm 1960; địa chỉ: Số 47/6C, Nguyễn Thái H, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/9/2018, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hứa Thị Thanh T và anh Đặng Minh T sau thời gian tìm hiểu nhau khoảng 05 tháng, tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 154, quyển số 01/2001 ngày 31/12/2001.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở số 146/3/19, đường Nguyễn Thái H, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T uống rượu, bia, không quan tâm đến vợ, con; thường xuyên chửi chị T, xúc phạm cha mẹ chị. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đặng Ngọc Minh C, sinh ngày 01/12/2000 và Đặng Minh T1, sinh ngày 28/7/2008. Khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hứa Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Đặng Minh T: Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 24/10/2018 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, do vậy vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên tòa vào các ngày 13/11/2018 và 29/11/2018 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/9/2018, người làm chứng anh Hứa Thanh L trình bày: Anh là em ruột của chị T. Từ năm từ năm 2016 đến tháng 01/2018, anh sống cùng với vợ chồng chị T. Quá trình chung sống giữa anh T và chị T xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cãi nhau, do anh T thường xuyên uống rượu, bia bị say.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/10/2018, người làm chứng bà Nguyễn Thị Hoa Lệ Ư trình bày: Bà là tổ trưởng tổ 12, khu phố Đ, phường T nơi anh T và chị T chung sống. Anh T là người nghiện rượu, hàng ngày anh T nhậu từ sáng tới trưa, nhiều khi rủ bạn bè về nhà nhậu tới khuya chứ không làm gì. Khi nhậu say, thỉnh thoảng có chửi chị T. Công việc chị T làm bảo vệ ở phòng giáo dục nên thường xuyên ở trên đó, những lúc say anh T lên cơ quan chửi chị T. Hiện nay anh T ở nhà một mình, các con theo chị T lên phòng giáo dục ở.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do nên Tòa án căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào ngày 13/11/2018 và 29/11/2018 nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Anh Đặng Minh T và chị Hứa Thị Thanh T có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 154, quyển số 01/2001 ngày 31/12/2001 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị Hứa Thị Thanh T xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T uống rượu, bia, không quan tâm đến vợ, con; thường xuyên chửi chị T, xúc phạm cha mẹ chị. Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân tại Hội liên hiệp phụ nữ phường T nhưng Hội liên hiệp phụ nữ không biết nguyên nhân các mâu thuẫn vợ chồng. Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập anh T đến Tòa án để hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh T không đến, đồng thời chị T có đơn từ chối hòa giải. Căn cứ vào lời khai của người làm chứng có cơ sở xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, tình trạng đã trầm trọng và cả hai đều không muốn hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị T là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đặng Ngọc Minh C, sinh ngày 01/12/2000 và Đặng Minh T1, sinh ngày 28/7/2008. Khi giải quyết việc ly hôn, Tòa án cần xem xét đến sự phát triển của con chưa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu Đặng Ngọc Minh C, sinh ngày 01/12/2000 và Đặng Minh T, sinh ngày 28/7/2008 hiện nay đang sống chung với chị T, vẫn phát triển tốt về mọi mặt. Quá trình tố tụng, anh T không có ý kiến gì về việc chị T yêu cầu được nuôi dưỡng các con chung, đồng thời các cháu đều có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giao các con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị T nên Tòa án ghi nhận.

Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hứa Thị Thanh T phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hứa Thị Thanh T về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Đặng Minh T.

2. Về hôn nhân: Chị Hứa Thị Thanh T được ly hôn với anh Đặng Minh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 154, quyển số 01/2001 ngày 31/12/2001 do Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp).

3. Về con chung:

3.1. Giao con chung tên Đặng Ngọc Minh C, sinh ngày 01/12/2000 và Đặng Minh T1, sinh ngày 28/7/2008 cho chị Hứa Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau ly hôn, anh Đặng Minh T và chị Hứa Thị Thanh T đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

3.2. Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hứa Thị Thanh T không yêu cầu anh Đặng Minh T cấp dưỡng nuôi con.

4. Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hứa Thị Thanh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0020157 ngày 18/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

6. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ