vanban.org

Bản án 157/2017/HSPT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 16/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn L và kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại – bà Nguyễn Thị D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 BLHS 1999; Khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015; Nghị quyết 144/2016QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội. Xử phạt: Phạm Văn L 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đườ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn L phạm tội theo Điều 202 - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 19…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn L và kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại – bà Nguyễn Thị D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2017/HSPT
Ngày: 16-8-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cảnh

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Mạnh

Bà Nguyễn Thị Hạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân Tp Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16/8/2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 98/2017/HSPT ngày 12 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo Phạm Văn L do có kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 27/2017/HSST ngày 10/5/2017 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo kháng cáo: Phạm Văn L, sinh ngày 06/8/1991 tại Quảng Nam; Nơi ĐKNKTT: Thôn Đ, xã Q, huyện N, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở: K226/10 đường V, phường B, quận H, Tp Đà Nẵng; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Không (sinh viên); Con ông Phạm Văn Đ và bà Lê Thị Th; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1985; Trú tại: tổ 70, phường N, quận S, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 40 phút ngày 13/11/2016, mặc dù không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng Phạm Văn L vẫn điều khiển xe mô tô BKS 92H4-4892 đi từ nhà ở xã Q, huyện N, tỉnh Quảng Nam đến Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng. L điều khiển xe chạy trên Quốc lộ 1A, đến Ngã ba Miếu Bông thì điều khiển xe chạy về đường Phạm Hùng. Đến đoạn giao nhau giữa đường Phạm Hùng và đường 5,5m thuộc phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, lúc này L ngủ gật, không quan sát được nên xe mô tô của L điều khiển tông vào xe mô tô BKS 92H1-03749 do chị Nguyễn Thị Ngọc Ph đang dừng sát mép lề đường bên phải đường Phạm Hùng, xe của L tiếp tục tông vào bà Huỳnh Thị X đang đứng trên lề đường ngay cạnh đó, làm bà X ngã xuống mặt đường chết tại chỗ.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2017/HSST ngày 10/5/2017 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 BLHS 1999; Khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015; Nghị quyết 144/2016QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội.

Xử phạt: Phạm Văn L 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, Bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo bản án.

Ngày 18/5/2017, bị cáo Phạm Văn L có đơn kháng cáo với nội dung: Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình. Hiện bị cáo là sinh viên, xin được hưởng án treo để tiếp tục việc học tập.

Ngày 19/5/2017 đại diện hợp pháp của người bị hại – bà Nguyễn Thị D có đơn kháng cáo với nội dung: Hậu quả vụ án xảy ra là ngoài ý muốn, bị cáo và gia đình bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả, đã thăm hỏi, động viên, bồi thường chi phí mai táng cho gia đình. Sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo tiếp tục bồi thường tốn thất tinh thần cho gia đình người bị hại. Xin HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội tiếp tục học tập.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về hình thức, đơn kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại đều được lập trong hạn luật định, đúng chủ thể, nội dung nên phù hợp về mặt hình thức. Về nội dung kháng cáo thì thấy rằng: Mặc dù không có giấy phép lái xe nhưng bị cáo Phạm Văn L vẫn điều khiển xe mô tô BKS 92H4-4892 loại trên 50 phân khối lưu thông trên đường, do ngủ gật, không quan sát nên xe mô tô của L điều khiển tông vào xe mô tô BKS 92H1- 03749 do chị Nguyễn Thị Ngọc Ph đang dừng sát mép đường, sau đó tiếp tục tông vào bà Huỳnh Thị X đang đứng trên lề đường ngay cạnh đó làm bà X ngã xuống mặt đường chết tại chỗ. Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 27/2017/HSST ngày 10/5/2017 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 BLHS là có căn cứ, đúng tội. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, hiện là sinh viên năm 4 của Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lỗi bị cáo là vô ý gây ra hậu quả, bị cáo đã bồi thường cho bị hại, gia đình bị hại kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo, do đó căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo cũng như kháng cáo của đại diện hợp pháp người bị hại, sửa án sơ thẩm, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Bị cáo Phạm Văn L thừa nhận bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 BLHS là đúng, tuy nhiên mức án đối với bị cáo là nghiêm khắc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Văn L cũng khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Sáng ngày 13/11/2016, mặc dù không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng Phạm Văn L vẫn điều khiển xe mô tô BKS 92H4-4892 loại trên 97 phân khối đi từ nhà ở xã Q, huyện N, tỉnh Quảng Nam đến Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng. Khi đến đoạn giao nhau giữa đường Phạm Hùng và đường 5,5m thuộc phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, do ngủ gật, không làm chủ được tay lái, không quan sát nên xe mô tô của L điều khiển tông vào xe mô tô BKS 92H1- 03749 do chị Nguyễn Thị Ngọc Ph đang dừng sát mép đường, sau đó tiếp tục tông vào bà Huỳnh Thị X đang đứng trên lề đường ngay cạnh đó làm bà X ngã xuống mặt đường chết tại chỗ. Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 27/2017/HSST ngày 10/5/2017 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 BLHS là có căn cứ, đúng tội.

Xét kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại thì thấy: Bị cáo điều khiển xe phân khối lớn lưu thông trên đường khi không có giấy phép lái xe theo quy định, trên đường đi bị cáo ngủ gật, không làm chủ tay lái nên xe của bị cáo đã tông liên hoàn vào xe mô tô của chị Nguyễn Thị Ngọc Ph sau đó tiếp tục tông vào bà Huỳnh Thị X đang đứng trên lề đường làm bà X tử vong. Lỗi trong vụ án này hoàn toàn thuộc về bị cáo. Hành vi của bị cáo đã vi phạm Khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông cũng như trật tự an toàn xã hội. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng, xử phạt bị cáo mức án 15 tháng tù là phù hợp. Do đó HĐXX căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng Hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát - giữ y án sơ thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn L và kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại – bà Nguyễn Thị D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 BLHS 1999; Khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015; Nghị quyết 144/2016QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội.

Xử phạt: Phạm Văn L 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Phạm Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- hòng NV- CA T ĐN;

- VK ND T ĐN;

- Chi cục T AD quận Cẩm Lệ;

- TAND quận Cẩm Lệ;

- VK ND quận Cẩm Lệ;

- Công an quận Cẩm Lệ;

- Những người TGTT;

Nguyễn Thị Cảnh

- Lưu hồ sơ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Thẩm phán

Thẩm Phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hạnh

Đặng Văn Mạnh

Nguyễn Thị Cảnh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Thẩm phán

Thẩm Phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Khánh Nguyệt

Đặng Văn Mạnh

Nguyễn Thị Cảnh

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- hòng NV- CA T ĐN;

- VK ND T ĐN;

- Chi cục T AD quận Liên Chiểu;

- TAND quận Liên Chiểu;

- VK ND quận Liên Chiểu;

- Công an quận Liên Chiểu;

- Bị cáo;

Nguyễn Thị Cảnh

- Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- hòng NV- CA T ĐN;

- VK ND T ĐN;

- Chi cục T AD quận Thanh Khê;

- TAND quận Thanh Khê;

- VK ND quận Thanh Khê;

- Công an quận Thanh Khê;

- Trại giam òa ơn;

Nguyễn Thị Cảnh

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ.

Cỡ chữ