vanban.org

Bản án 1560/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng Thông tư 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng N;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng TMCP S (nay là Ngân hàng TMCP S1). 1. Buộc ông Võ Minh P có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S (nay là Ngân hàng TMCP S1) số tiền 124.155.459 đồng (một trăm hai mươi bốn triệu một trăm năm mươi lăm ngàn bốn trăm năm mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 33.239.5… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP S - Võ Minh P"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng Thông tư 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng N;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1560/2026/DS-ST
Ngày: 27/07/2026
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lưới. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thái Thục Hiền 2. Ông Đặng Văn Ẩn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 07 năm 2026 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 792/2026/TLST-DS ngày 06 tháng 03 năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2367/2026/QĐXXST-DS ngày 01/06/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 2948/2026/QĐST-DS ngày 29/06/2026 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (nay là Ngân hàng TMCP S1). Địa chỉ: 2 N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S, (văn bản ủy quyền lập ngày 10/12/2024). Người đại diện theo ủy quyền (ủy quyền lại): Ông Trần Gia T, sinh năm: 1971 Địa chỉ: B N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh, (văn bản ủy quyền lập ngày 23/10/2025), (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt). 2. Bị đơn: Ông Võ Minh P, sinh năm: 1989, (vắng mặt). Địa chỉ: B Chung cư T, A A, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 21/11/2025, bản tự khai đại diện của nguyên đơn ông Trần Gia T trình bày:

Ngày 28/11/2018, ông Võ Minh P có ký với Ngân hàng TMCP S (Ngân hàng) (nay là Ngân hàng TMCP S1) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân) với hạn mức tín dụng là 28.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn 2,5%/tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 473.182.815 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ ông P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 447.110.000 đồng (theo thứ tự thanh toán tại Điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng). Ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.

Ngày 23/10/2020, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ là 33.239.515 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (áp dụng thời điểm hiện tại là 2,6%/tháng), tính đến ngày 27/07/2026, ông P còn nợ các khoản sau: nợ gốc: 33.239.515 đồng, lãi quá hạn: 90.915.944 đồng. Tổng cộng: 124.155.459 đồng (một trăm hai mươi bốn triệu một trăm năm mươi lăm ngàn bốn trăm năm mươi chín đồng).

Do khách hàng trễ hạn trả nợ nên Ngân hàng TMCP S (nay là Ngân hàng TMCP S1) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Võ Minh P trả cho Ngân hàng TMCP S1 toàn bộ số tiền nợ phải trả là: 124.155.459 đồng (một trăm hai mươi bốn triệu một trăm năm mươi lăm ngàn bốn trăm năm mươi chín đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 28/07/2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất các bên thỏa thuận. Ông Trần Gia T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

Ông Võ Minh P mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Ngân hàng TMCP S (nay là Ngân hàng TMCP S1) khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Võ Minh P. Đây là tranh chấp về hợp đồng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

[1.2] Bị đơn cung cấp địa chỉ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/11/2018 tại B Chung cư T, A A, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), nên theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/06/2025, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/06/2025, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Về việc xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Gia T có đơn yêu cầu vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Ông Võ Minh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập đương sự, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Võ Minh P vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về áp dụng pháp luật: Do giao dịch dân sự giữa Ngân hàng TMCP S1 và ông Võ Minh P được thực hiện vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 để giải quyết vụ án.

Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Tòa án triệu tập ông Võ Minh P đến Tòa án để ghi nhận ý kiến, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản với Ngân hàng TMCP S1 nhưng ông P không đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án. Vì vậy, ông P đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình và phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử lấy yêu cầu khởi kiện, lời trình bày và các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp làm chứng cứ giải quyết vụ án.

Căn cứ Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 28/11/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, bảng tóm tắt sao kê, lời khai của đại diện nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ thì đủ cơ sở xác định Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông Võ Minh P với hạn mức sử dụng là 28.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn 2,5%/tháng, lãi suất áp dụng hiện tại là 2,6%/tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 473.182.815 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ ông P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 447.110.000 đồng, còn nợ Ngân hàng TMCP S1 tính đến ngày 27/07/2026 là 124.155.459 đồng (một trăm hai mươi bốn triệu một trăm năm mươi lăm ngàn bốn trăm năm mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 33.239.515 đồng, lãi quá hạn: 90.915.944 đồng.

Ông Võ Minh P đã vi phạm thỏa thuận tại các điều khoản mà hai bên đã giao kết, vi phạm Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”;

Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật…”.

Tại Điều 2 Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng quy định về trách nhiệm thanh toán của chủ thẻ: “… Chủ thẻ là cả chủ thẻ chính và bất kỳ và tất cả chủ thẻ phụ chịu trách nhiệm liên đới đối với việc thanh toán tất cả các giao dịch và tất cả các khoản phí, chi phí phát sinh trên tài khoản do việc sử dụng thẻ bao gồm nhưng không giới hạn những khoản phí không hoàn lại, lệ phí và thuế theo quy định của pháp luật cho đến khi thanh toán đầy đủ cho đơn vị phát hành thẻ mà không cần có bằng chứng hóa đơn được ký hay chứng từ khác …”.

Tại khoản 9 Điều 1 Thông tư 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng N quy định về nguyên tắc sử dụng thẻ: “2. Khi sử dụng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ được thấu chi, chủ thẻ phải sử dụng tiền đúng mục đích và thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho TCPHT các khoản tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo hợp đồng đã giao kết với TCPHT.”.

Đối chiếu các quy định như trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền tính đến ngày 27/07/2026 là: 124.155.459 đồng (một trăm hai mươi bốn triệu một trăm năm mươi lăm ngàn bốn trăm năm mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 33.239.515 đồng, lãi quá hạn: 90.915.944 đồng, đồng thời bị đơn còn có nghĩa vụ trả tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho nguyên đơn theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 28/11/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng cho đến khi bị đơn trả nợ xong.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Từ những lý lẽ đã viện dẫn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Áp dụng Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Áp dụng Điều 8, 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Áp dụng Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Áp dụng Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/06/2025 quy định về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;

Áp dụng Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/06/2025 quy định về hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân;

Áp dụng Thông tư 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng N;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025. Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng TMCP S (nay là Ngân hàng TMCP S1).

1.1. Buộc ông Võ Minh P có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S (nay là Ngân hàng TMCP S1) số tiền 124.155.459 đồng (một trăm hai mươi bốn triệu một trăm năm mươi lăm ngàn bốn trăm năm mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 33.239.515 đồng, lãi quá hạn: 90.915.944 đồng.

1.2. Kể từ ngày 28/07/2026, ông Võ Minh P còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 28/11/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP S1 thì lãi suất mà ông Võ Minh P phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP S1 theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP S1.

2. Về án phí:

2.1. Ông Võ Minh P chịu 6.207.773 đồng (sáu triệu hai trăm lẻ bảy ngàn bảy trăm bảy mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

2.2. H lại cho Ngân hàng TMCP S (nay là Ngân hàng TMCP S1) số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.792.768 đồng (hai triệu bảy trăm chín mươi hai ngàn bảy trăm sáu mươi tám đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005317 ngày 15 tháng 01 năm 2026 của Thi hành án dân sự Thành phố H.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 34, Điều 36 và Điều 71 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ