vanban.org

Bản án 156/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm dân sự: tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

Về án phí: bị cáo Lê Quang Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quang Q lừa đảo chiếm đoạt tài sản - lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2026/HS-ST
Ngày 20/5/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Lê Viên

Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Văn Nở

ông Nguyễn Ngọc Ngân

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Võ Khánh Trân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: ông Huỳnh Tấn Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2026/TLST-HS ngày 27/3/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2026/QĐXXST-HS ngày 07/5/2026 đối với bị cáo:

Lê Quang Q, sinh ngày: 18/9/1985, tại HN; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Căn hộ B2.13.11 Chung cư T, phường TM, Thành phố HCM; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang D, sinh năm: 1962 và bà Lê Thị X, sinh năm: 1968; vợ Nguyễn Thị Diệu O, sinh năm: 1985, có 02 con sinh năm 2014 và 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2025; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty Tài chính Cổ phần T

Địa chỉ: Tầng 17, Tòa nhà M, 229 TS, phường NTS, quận ĐĐ (nay là phường KL), Thành phố HN.

Đại diện theo pháp luật: ông Hồ Minh T

Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Nguyễn Thế P, sinh năm: 1993

Địa chỉ: F19-A1 H, phường BT, Thành phố HCM.

Vắng mặt tại phiên tòa.

+ Ông Lê Quang D, sinh năm: 1962

Địa chỉ: 115/10 NTB, phường TMT, Thành phố HCM.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 6/2022, Lê Quang Q nhặt được một giấy chứng minh nhân dân số: 225652222 của người tên Nguyễn Thế P do Công an tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 26/7/2013. Sau đó, Quyết tách hình thẻ trong giấy chứng minh nhân dân của ông Nguyễn Thế P, sau đó lấy hình thẻ của bản thân Quyết dán vào chứng minh nhân dân với thông tin của ông Nguyễn Thế P và đi ép nhựa lại.

Ngày 29/6/2022, Quyết đăng nhập vào Ứng dụng “V” của Công ty Cổ phần tài chính T lấy giấy chứng minh nhân dân có hình ảnh của Q nhưng thông tin là của ông Nguyễn Thế P để làm hồ sơ, hợp đồng mở thẻ tín dụng có mã số hồ sơ số: APPL00940228 mang tên khách hàng Nguyễn Thế P, sinh ngày: 09/02/1993, giấy chứng minh nhân dân số: 225652222 do Công an tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 26/7/2013, và cung cấp thông tin nơi làm việc tại Công ty Địa ốc U – 1338 PVĐ, phường LT, quận TĐ, Thành phố HCM. Sau khi đăng ký đầy đủ thông tin kèm hình ảnh, Công ty T đã duyệt hồ sơ và cấp thẻ tín dụng nội địa có số thẻ: 9704602226924275, số tài khoản: 21961019, hạn mức 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), tài khoản được liên kết rút tiền mặt tại tất cả các ngân hàng thương mại trên cả nước. Thẻ tín dụng được Công ty T gởi dịch vụ chuyển phát nhanh đến cho Quyết tại 1338 PVĐ, phường LT, quận TĐ, Thành phố HCM.

Sau khi nhận thẻ do Công ty Tài chính Cổ phần T cấp, ngày 12/7/2022, Q đến trụ ATM thuộc ngân hàng An Bình, khu vực công viên đường Trần Phú, phường Lộc Thọ, thành phố Nha Trang (nay là phường Nha Trang), tỉnh Khánh Hòa trực tiếp rút tiền mặt 16 lần, với tổng số tiền là 48.000.000 đồng. Ngày 18/7/2022, Q đến trụ ATM tại ngân hàng LienvietPost trên đường Kha Vạn Cân, phường Linh Tây, thành phố Thủ Đức (nay là phường Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh, rút 03 lần với tổng cộng số tiền là 9.000.000 đồng. Ngày 25/7/2022, Q đến trụ ATM thuộc ngân hàng ACB trên đường Kha Vạn Cân, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức (nay là phường Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh, rút tổng cộng 03 lần với tổng số tiền 9.000.000 đồng. Đến ngày 28/7/2022, tại trụ ATM thuộc ngân hàng Techcom nhà thiếu nhi phường Linh Chiểu, thành phố Thủ Đức (nay là phường Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh, rút tổng cộng 05 lần với tổng số tiền 15.000.000 đồng; tại trụ ATM thuộc ngân hàng An Bình - phòng giao dịch Dân Chủ, phường Bình Thọ, thành phố Thủ Đức (nay là phường Thủ Đức), thành phố Hồ Chí Minh, rút tổng cộng 07 lần với tổng số tiền là 19.000.000 đồng. Tổng số tiền Q rút ra từ thẻ tín dụng nội địa có số thẻ 9704602226924275, số tài khoản 21961019 để chiếm đoạt là 100.000.000 đồng.

Từ tháng 8/2022 đến tháng 2/2023, Lê Quang Q đã chuyển thanh toán tiền gốc và lãi 38.778.633 đồng cho Công ty cổ phần tài chính T; ngoài ra, ông Lê Quang D (đại diện cho Lê Quang Q) bồi thường cho Công ty cổ phần tài chính T 116.091.983 đồng, nên Công ty không yêu cầu dân sự

Tại bản cáo trạng số 189/CT-VKSKV1 ngày 26/3/2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa để xét xử đối với bị cáo Lê Quang Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quang Q từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về án phí: bị cáo Lê Quang Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm;

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Lê Quang Q đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa, bị hại – Công ty Tài chính Cổ phần T (V); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Thế P mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, xét thấy việc vắng mặt của các đương sự trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về tội danh: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 189/CT-VKSKV1 ngày 26/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa truy tố bị cáo Lê Quang Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Xét mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không qua lao động chân chính, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại và đã được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có bác ruột là liệt sĩ, có cha là quân nhân từng công tác tại Campuchia nên áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, an tâm cải tạo, tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội.

. Về trách nhiệm dân sự: bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

. Về án phí: bị cáo Lê Quang Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

. Đối với hành vi Q dùng hình ảnh của mình dán vào chứng minh nhân dân của ông Nguyễn Thế P. Đây là thủ đoạn Q sử dụng nhằm lừa mở thẻ tín dụng và chiếm đoạt 100.000.000 đồng của Công ty Tài chính Cổ phần T, tuy nhiên quá trình điều tra không thu được giấy chứng minh nhân dân mà Q đã sử dụng nên không xác định được là thật hay giả. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quang Q 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/11/2025.

Về trách nhiệm dân sự: tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

Về án phí: bị cáo Lê Quang Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ