vanban.org

Bản án 156/2026/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 26/05/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/05/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ma Văn Đ, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 27/2026/HS-ST ngày 13/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng về hình phạt đối với bị cáo như sau:

Về án phí: Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma Văn Đ - Gây rối trật tự công cộng - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ma Văn Đ, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 27/2026/HS-ST ngày 13/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng về hình phạt đối với bị cáo như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2026/HS-PT
Ngày: 26/5/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hương Nhu.

Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng Huy và ông Nguyễn Xuân Tuyến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện VKSND thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu T - Kiểm sát viên.

Ngày 26/5/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2026/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo Ma Văn Đ, do có kháng cáo của bị cáo Ma Văn Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2026/HS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng.

Bị cáo kháng cáo:

Ma Văn Đ, sinh ngày 22/10/2005 tại Tuyên Quang; nơi ĐKHKTT: Bản Tạ, xã N, tỉnh Tuyên Quang; chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã M, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Văn Đ1 và bà Hoàng Thị L; tiền án, tiền sự: Không; CCCD số: 002205010304;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

* Những người tham gia tố tụng khác:

- Các bị cáo không kháng cáo: Mùa A D, Ly A D1, Ly A D2, Mùa A D3, Ly A S, Nguyễn Duy M, Sùng Mí C, Sùng Mí M1 (đều vắng mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Ma Văn Đ: Ông Phạm Văn Đ2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sùng Mí C và Mùa A D là công nhân thời vụ tại Công ty N1 thuộc KCN T, xã M, thành phố Hải Phòng. Do C phát hiện D thường xuyên nhắn tin tán tỉnh bạn gái của C là chị Giàng Thị S1, sinh năm 2010 (làm cùng công ty N1) nên C dùng tài khoản messenger “Giàng Thị Sinh” của chị S1 nhắn tin đến tài khoản messenger "Ak.Dệnh Bùi" của D dẫn đến hai bên xảy ra mâu thuẫn, hẹn gặp đánh nhau tại cổng công ty N1 vào tối ngày 02/7/2025. Sau đó, C nói chuyện với Sùng Mí M1 (là anh họ của C, làm cùng công ty N1) về mâu thuẫn với D để nhờ Mình giúp thì M1 đồng ý. Mình sử dụng tài khoản Mesenger “Mình Ari Cato” nhắn tin cho D hoà giải nhưng không thành. Do D tiếp tục hẹn gặp để đánh nhau nên M1 đã nhờ Ma Văn Đ, anh Đỗ Văn C1, sinh năm 1997, ở thôn H, xã K, anh Bùi Phương N, sinh năm 1999, ở xóm D, xã T, tỉnh Phú Thọ và anh Nguyễn Việt C2, sinh năm 1993, ở thôn P, xã M đi cùng đến gặp D thì mọi người đồng ý. Anh Đỗ C1 rủ Nguyễn Duy M và anh Đào Đức Đ3, sinh năm 1999, ở thôn V, xã M (làm cùng công ty N1) đi cùng. Sau khi hẹn đánh nhau với nhóm của M1, D đã rủ L1 A D1 (tên gọi khác là D4) và Ly A D2 (bạn của D) đi cùng thì D1 và D2 đồng ý. Dệnh liên hệ qua messenger với Mùa A D3 và Ly A S nhờ đi đánh nhau cùng thì D3, S đồng ý và rủ thêm anh Mùa A P, sinh năm 1998, anh Mùa A C3, sinh năm 2001 đều ở bản H, xã C, tỉnh Sơn La, 01 người thanh niên tên là P1 ở tỉnh Thanh Hoá (bạn của D3) và 02 người nam thanh niên (chưa rõ tên tuổi, địa chỉ) cùng đi. Khoảng hơn 20 giờ cùng ngày, nhóm của M1 và C (gồm Mình, C, M, Đ; các anh N, Đ3, Đỗ C1, Nguyễn C2) đứng ở cổng công ty N1 nhưng không thấy nhóm của D đến nên M1 bảo mọi người đến quán B ở thôn P, xã M uống bia. Tại đây, anh Nguyễn C2 và anh Đ3 khuyên mọi người không đi đánh nhau nữa thì tất cả đều nhất trí, anh Đỗ Chiến Đ4 về trước. Tuy nhiên trong khi uống bia, D và M1 vẫn nhắn tin trên messenger thách thức nhau nên M1 và C tiếp tục bảo mọi người đi cùng ra chỗ hẹn với nhóm của D. Cũng trong khoảng thời gian này, D liên hệ qua messenger rủ nhóm của D3 đến cầu vượt Q, xã M gặp mặt. Dệnh cầm 01 gậy sắt ba khúc, D1 cầm 01 dao kim loại cất trong người rồi D1 sử dụng xe môtô Honda WinnerX không có BKS (mượn của anh Lý A Đ5, sinh năm 2005, anh trai D1) chở D và D2 đến cầu vượt Q gặp nhóm của D3, C3, P, S, anh P1 và 02 thanh niên (chưa rõ tên, địa chỉ). Sau đó, D điều khiển xe môtô của D1 chở D2 và D1 đi trước, Mùa A D3 điều khiển xe môtô của P1 chở P1, S đi xe 01 xe môtô (mượn của người không quen biết), 2 thanh niên đi 01 xe môtô, anh P và anh C3 mỗi người đi 01 xe môtô theo sau. Trên đường đi do sợ và không muốn tham gia vào việc đánh nhau nên anh P, anh C3, anh P1 và 2 thanh niên không đi theo mà đứng rải rác trên đường trong KCN T, còn D1, D, D2, D3, S đứng ở cổng Công ty N1 chờ nhóm của M1 đến. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, M1 điều khiển xe môtô Honda Wave Alpha BKS 23AM-019.10 (của M1) chở C; Đ điều khiển xe môtô H không có BKS (mượn của chị Hoàng Thị L, mẹ Đ) chở M đến cổng công ty N1. Chơ xuống xe xông vào đấm Dệnh trước thì cả hai nhóm xông vào đánh nhau (gồm: Chơ, M1, M, Đ, D3, S, D, D2, D1). Quá trình xô xát, D dùng gậy sắt ba khúc, D1 dùng dao đánh lại làm C và M bị thương. Khi hai nhóm đang đánh nhau, các anh N, Đ3 và Nguyễn C2 đi đến đã vào can ngăn và hô "Công an đến" nên hai nhóm không đánh nhau nữa. Nhóm của D đi về, còn C và M được đưa đến Bệnh viện Đ6 cấp cứu và điều trị. Sự việc hai nhóm đuổi đánh nhau đã gây mất an ninh trật tự trên địa bàn. Cùng ngày, C và M có đơn yêu cầu khởi tố, vụ việc được điều tra làm rõ.

Bản kết luận giám định số 245/KLTTCT-TTPYHP ngày 13/8/2025 của Trung tâm pháp y thành phố H, kết luận: Sùng Mí C bị thương tích 04%, tổn thương có đặc điểm do vật tày gây ra.

Bản kết luận giám định số 246/KLTTCT-TTPYHP ngày 13/8/2025 của Trung tâm pháp y thành phố H, kết luận: Nguyễn Duy M bị thương tích 18%, tổn thương có đặc điểm do vật sắc gây ra.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Duy M yêu cầu bồi thường 22.400.000 đồng; bị cáo Sùng Mí C yêu cầu bồi thường 8.000.000 đồng. Các bị cáo Mùa A D, Ly A D2, Ly A D1, Ly A S và Mùa A D3 chưa thực hiện việc bồi thường.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2026/HS-ST ngày 13/3/2026, Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng đã áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ma Văn Đ; Xử phạt bị cáo Ma Văn Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra, bản án còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/3/2026 bị cáo Ma Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ gì mới.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đồng thời xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật hạn chế để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng về hình phạt; miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong thời gian luật định nên hợp lệ.

Về nội dung: Lời khai của bị cáo Đ tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn cá nhân giữa Sùng Mí C và Mùa A D nên khoảng 21 giờ 30 phút ngày 02/7/2025, tại đoạn đường trước cổng Công ty TNHH N1 thuộc KCN T, xã M, thành phố Hải Phòng, các đối tượng gồm Mùa A D, Ly A D1, Ly A D2, Mùa A D3, Ly A S và Sùng Mí C, Sùng Mí M1, Nguyễn Duy M, Ma Văn Đ đã tụ tập đông người, đuổi đánh nhau gây mất an ninh trật tự công cộng. Trong quá trình đánh nhau, Mùa A D dùng gậy sắt ba khúc, Ly A D1 dùng dao kim loại gây thương tích cho Sùng Mí C tỷ lệ 4% và Nguyễn Duy M tỷ lệ 18%.

Cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Mùa A D, Ly A D2, Ly A D1, Mùa A D3 và Ly A S về các tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự và tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự; xét xử các bị cáo Sùng Mí C, Sùng Mí M1, Ma Văn Đ và Nguyễn Duy M về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định.

Xét kháng cáo của bị cáo Ma Văn Đ xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, HĐXX thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự câu kết, tổ chức chặt chẽ; bị cáo Đ mặc dù không có mâu thuẫn gì với nhóm của Mùa A D nhưng khi được M1 rủ đi đánh nhau, bị cáo không những không can ngăn mà đồng ý ngay; bị cáo sử dụng xe mô tô chở Nguyễn Duy M đến cổng công ty N1 để đánh nhau giúp M1 và C; sau đó khi thấy M1 và C xông vào đánh nhóm D thì Đ cũng lao vào đánh nhóm D để hỗ trợ M1 và C. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, tình tiết giảm nhẹ hình sự của bị cáo, xử phạt bị cáo Ma Văn Đ 06 tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ mới nên HĐXX không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo.

Từ những phân tích trên, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ma Văn Đ, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 27/2026/HS-ST ngày 13/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng về hình phạt đối với bị cáo.

Kháng cáo của bị cáo Đ không được chấp nhận nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ma Văn Đ, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 27/2026/HS-ST ngày 13/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng về hình phạt đối với bị cáo như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Ma Văn Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án, ngày 26/5/2026.

Cỡ chữ