- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân T phạm tội "Giết người" - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156/2025/HS-ST Ngày: 15-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân
Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Sinh
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Lê Bá Thừa.
+ Bà Hồ Thị Kim Thu.
+ Bà Huỳnh Thị Kim Xuyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Khánh Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Võ Thế Dân - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 151/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 453/2025/QĐXXST-HS ngày 01/12/2025 đối với bị cáo:
Lê Xuân T, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1956 tại Nghệ An; nơi cư trú: Thôn C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (Nay là Thôn C, xã Đ, tỉnh Gia Lai); nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn B (chết) và bà: Phan Thị B1 (chết); vợ: Cung Thị L, sinh năm 1958, con: có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2025 (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Xuân T: Ông Lương Hữu H - Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh G (Có mặt).
Địa chỉ: C C, phường D, tỉnh Gia Lai.
- Bị hại: Bà Cung Thị L, sinh năm: 1958; Trú tại: Thôn C, xã Đ, tỉnh Gia Lai (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn G, sinh năm: 1983; Trú tại: Thôn K, xã K, tỉnh Gia Lai (Có mặt).
- Người làm chứng: Ông Trịnh Xuân H1, sinh năm: 1968; Trú tại: Thôn C, xã Đ, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Cung Thị L (sinh năm 1957) và Lê Xuân T là vợ chồng có với nhau 04 người con chung, cùng trú tại thôn C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (nay là thôn C, xã Đ, tỉnh Gia Lai).
Khoảng 10 giờ ngày 31/5/2025, Lê Xuân T uống rượu một mình trong phòng ngủ. Đến 12 giờ cùng ngày, T đi ra khỏi phòng không thấy bà L nên T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81C1-063.60 đến nhà ông Trịnh Xuân H1 (sinh năm 1968, là hàng xóm gần nhà T) tiếp tục uống rượu. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, T say rượu bị ngã xe nên ông H1 điều khiển xe mô tô chở T về nhà, rồi cả hai người vào trong phòng khách nhà T ngồi nói chuyện với nhau; khoảng 20 phút sau, bà L đi bán hàng về nhà thì xảy ra mâu thuẫn lời qua tiếng lại với T về việc T nghi ngờ bà L đi ngoại tình với người khác, T nói với bà L:“Buông bỏ đi, đừng có ngoại tình nữa, tôi ghét lắm”, bà L trả lời:“Ông suốt ngày uống rượu nói năng lung tung”. Lúc này, T đi xuống nhà bếp lấy 01 (một) dao dài cả cán và lưỡi 29,2cm cầm trên tay phải rồi quay lại phòng khách đứng trước mặt bà L nói với bà L:“Tao đâm mày”, tay phải T cầm dao vừa đâm 01 (một) nhát về phía bà L thì được ông H1 can ngăn giữ tay T lại, làm dao trúng vào tay trái của ông H1 chảy máu, T tiếp tục vung dao đâm bà L 01 (một) nhát nữa theo hướng từ phải sang trái trúng vào hông trái bà L làm dao găm dính vào người bà L, bà L bỏ chạy ra tới cổng gục xuống bất tỉnh, T tiếp tục đuổi theo bà L ra đến sân thì được ông H1 đuổi theo ôm đè T xuống sân và hô hoán mọi người xung quanh bắt giữ T. Nhận được tin báo, Công an thị trấn Đ, tỉnh Gia Lai (cũ) đưa Lê Xuân T về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Hậu quả làm bà L bị thương, nhập viện điều trị tại Bệnh viện Đ đến ngày 14/6/2025 thì xuất viện. Ông H1 bị thương tại cổ tay trái nhập viện Trung tâm Y tế huyện Đ, tỉnh Gia Lai (cũ) sơ cứu, sau đó xuất viện trong ngày.
- Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 225/KLTTCT-TTPY ngày 06/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh G đối với bà Cung Thị L, kết luận:
+ 01 (một) vết thương phần mềm đường nách giữa khoang liên sườn 4-5 cung bên bên trái.
+ 01 (một) vết mổ dẫn lưu màng phổi đường nách trước khoang liên sườn 4-5 bên trái.
+ 01 (một) vết mổ đường trắng giữa bụng kéo dài từ hõm ức xuống đến rốn.
+ 01 (một) vết mổ dẫn lưu vùng hông bụng trái.
+ 01 (một) vết mổ dẫn lưu vùng hông bụng phải.
+ Vết thương thấu ngực trái gây đứt gãy cung bên xương sườn số 7 bên trái.
+ Vết thương thấu ngực trái gây đứt gãy cung bên xương sườn số 8 bên trái.
+ Vết thương thấu ngực trái gây đứt gãy cung bên xương sườn số 9 bên trái.
+ Vết thương thấu ngực gây tràn máu màng phổi trái đã phẫu thuật súc rửa và dẫn lưu màng phổi ngày thứ 5.
+ Vết thương rách cơ hoành trái đã phẫu thuật khâu cơ hoành ngày thứ 5.
+ Vết thương thấu ngực bụng gây thủng dạ dày 2 lỗ đã phẫu thuật khâu lỗ thủng ngày thứ 5.
+ Vết thương thấu ngực bụng gây tổn thương bờ trên thân tuỵ kích thước (1x3)cm đã phẫu thuật khâu nhu mô tuỵ ngày thứ 5.
+ Vết thương thấu ngực bụng gây tổn thương cực dưới lách đã phẫu thuật khâu bảo tồn lách ngày thứ 5.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Cung Thị L tại thời điểm giám định là: 73% (Bảy mươi ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Cơ chế: Do sự tác động trực tiếp của ngoại lực.
Vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật kim loại có mũi nhọn, cạnh sắc bén. Vì vậy, vật được trưng cầu là 01 con dao (loại dao bầu) có mũi nhọn, cạnh sắc bén là vật hoàn toàn phù hợp gây ra các thương tích cho bà Cung Thị L.
- Bản Kết luận giám định số 538/KL-KTHS ngày 09/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh G, kết luận:
+ Trên con dao dài 29,2cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 17cm, mũi nhọn, phần rộng nhất 5,7cm, cán dao bằng gỗ dài 12,2cm (Mẫu ký hiệu A1), trong túi niêm phong Mã số PS1A 053420 được niêm phong gửi giám định: Có máu người, do lượng mẫu ít nên không xác định được nhóm máu hệ ABO.
+ Chất màu nâu nghi máu thấm trên 04 (bốn) cục bông (Mẫu ký hiệu A2) trong túi niêm phong Mã số PS3 23005365 được niêm phong gửi giám định: Là máu người, nhóm máu O.
+ Chất màu nâu nghi máu thấm trên áo sơ mi dài tay màu xanh, kích thước (63 x 54)cm (Mẫu ký hiệu A3) trong túi niêm phong Mã số PS1 23002690 được niêm phong gửi giám định: Là máu người, nhóm máu O.
+ Chất màu nâu nghi máu thấm trên áo thun ngắn tay màu trắng dài 70cm, phần vai áo 55cm, mặt trước áo có dòng chữ “BROOKLYN” (Mẫu ký hiệu A4) trong túi niêm phong Mã số PS1 23002690 được niêm phong gửi giám định: Là máu người, nhóm máu O.
+ Tại hồ sơ bệnh án của bà Cung Thị L xác định nhóm máu bà L là nhóm máu O.
- Bản Kết luận giám định số 539/KL-KTHS ngày 13/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh G, kết luận: Dao gửi giám định dài 29,2cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 17cm, bản rộng 5,7cm, mũi dao nhọn, cán bằng gỗ dài 12,2cm là dao sắc, nhọn thuộc phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” quy định tại Thông tư số 75/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1.
- Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng của vụ án như sau:
+ 01 (một) dao dài 29,2cm, lưỡi dao dài 17,0cm, bản rộng 5,7cm, mũi dao nhọn, cán bằng gỗ (Thu giữ tại Bệnh viện Đ). Hiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh G đã chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh G để giải quyết theo thẩm quyền đối với vụ án“Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”;
+ 01 (một) áo sơ mi dài tay màu xanh, kích thước (63 x 54)cm, tay áo dài 57cm, trên áo bám dính nhiều chất màu nâu nghi máu; 01 (một) áo thun ngắn tay cổ tròn, màu trắng, có dòng chữ màu đen trước ngực “Brooklyn”, kích thước (70 x 55)cm, tay áo dài 20cm, trên áo bám dính nhiều chất màu nâu nghi máu (Thu giữ khi bắt quả tang Lê Xuân T);
+ 04 (bốn) cục bông thấm chất màu nâu nghi máu sau giám định (Thu giữ khi khám nghiệm hiện trường).
Các vật chứng nêu trên tiếp tục tạm giữ, chờ xử lý theo quy định pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Văn G là con của Lê Xuân T và bà Cung Thị L đã bồi thường các khoản chi phí do thiệt hại về sức khỏe cho bà Cung Thị L với tổng số tiền là 68.000.000 đồng (Sáu mươi tám triệu đồng). Bà L không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bản cáo trạng số 19/CT-VKSGL-P2 ngày 10/11/2025 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lê Xuân T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Xuân T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai luận tội và đề nghị: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Xuân T về tội “Giết người” và áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 15; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Xuân T từ 09 đến 11 năm tù về tội “Giết người”.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật chứng vụ án (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Gia Lai và Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người cao tuổi nên miễn án phí cho bị cáo.
Luật sư Lương Hữu H đưa ra luận cứ bào chữa cho bị cáo Lê Xuân T: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có sự chuẩn bị từ trước, chỉ do bộc phát nhất thời, hậu quả chết người chưa xảy ra. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại được bị hại bãi nại, tại phiên toà bị hại xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đã từng tham gia quân ngũ, được nhận nhiều huân chương, huy chương, gia đình bị cáo có công cách mạng, hiện nay bị cáo là người cao tuổi, sức khoẻ giảm sút nên đề nghị hội đồng xét xử căn cứ vào các điểm b, s, v, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 57 của Bộ luật Hình sự, áp dụng mức hình phạt thấp nhất xử phạt bị cáo 07 năm tù cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo bị cáo thành công dân tốt.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Do nghi ngờ bà Cung Thị L (vợ) ngoại tình nên vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 31/5/2025, sau khi uống rượu Lê Xuân T gây sự và buông những lời nói xúc phạm bà L, dẫn đến cả hai có lời qua tiếng lại. Bực tức, Lê Xuân T đi xuống bếp lấy 01 (một) dao dài cả cán và lưỡi 29,2cm, mũi dao nhọn quay lại phòng khách nói với bà L:“Tao đâm mày” và tay phải cầm dao đâm 01 nhát về phía bà L thì được ông H1 dùng tay ngăn cản lại; T tiếp tục cầm dao đâm tiếp nhát thứ 02 trúng vào hông bên trái của bà L là vùng trọng yếu trên cơ thể con người, nhằm tước đoạt mạng sống của bị hại, tuy nhiên hậu quả bà L bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 73% (Bảy mươi ba phần trăm) là do được cấp cứu kịp thời, việc bà L không chết là nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Hành vi nêu trên thể hiện bản tính côn đồ, bất chấp pháp luật. Do đó, Cáo trạng số 19/CT-VKSGL-P2 ngày 10/11/2025 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lê Xuân T về tội “Giết người” với tình tiết “Có tính chất côn đồ” điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Lê Xuân T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận biết sức khoẻ, tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ, nhưng chỉ vì ghen tuông mù quáng, bị cáo sử dụng hung khí đâm bị hại chính là người vợ của mình, mặc dù đã được ông H1 ngăn cản nhưng bị cáo tiếp tục đâm nhát thứ 2 vào hông trái bà C, bà C bỏ chạy bị vấp ngã, bị cáo tiếp tục đuổi theo nhưng do được ông H1 ngăn cản kịp thời và bị hại được đưa đi cấp cứu kịp thời nên hậu quả bà cung bị thương tích với tỷ lệ 73%. Hành vi của bị cáo thể hiện bản chất côn đồ, hung hãn, xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng của bị hại, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương nên cần xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Xuân T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, nên được bị hại bãi nại. Bị cáo đã từng tham gia Q, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba và được Ban, Ban liên lạc Cựu chiến binh truyền thống mặt trận đường I, Quảng Trị - B5 tặng nhiều kỷ niệm chương. Cha bị cáo là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương hạng Nhì nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s, v, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội chưa đạt nên được áp dụng Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, trực tiếp tham gia chiến đấu tại chiến trường Campuchia và chiến đấu tại mặt trận đường I Quảng Trị - B5, có nhiều cống hiến cho công cuộc bảo vệ tổ quốc, hơn nữa tại phiên toà, bị hại (vợ bị cáo) tha thiết đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm nên hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Phần xử lý vật chứng: 01 (một) áo sơ mi dài tay màu xanh, kích thước (63 x 54)cm, tay áo dài 57cm, trên áo bám dính nhiều chất màu nâu nghi máu; 01 (một) áo thun ngắn tay cổ tròn, màu trắng, mặt trước áo có dòng chữ “Brooklyn”, dài (70 x 55)cm, tay áo dài 20cm, trên áo bám dính nhiều chất màu nâu nghi máu; 04 (bốn) cục bông thấm chất màu nâu nghi máu sau giám định là vật chứng không có giá trị sử dụng nên theo quy định điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Xuân T là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai luận tội và đề nghị xử phạt bị cáo Lê Xuân T từ 09 đến 11 năm tù là chưa phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử.
[9] Luật sư đưa ra luận cứ bào chữa đề nghị hội đồng xét xử áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s, v, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử.
[10] Các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Lê Xuân T sử dụng hung khí là con dao đâm bà Cung Thị L gây thương tích có dấu hiệu tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh G đã ra Quyết định số C1269/QĐ-VPCQCSĐT (Đ3) ngày 23/9/2025 tách hành vi Lê Xuân T cùng tài liệu liên quan chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh G để giải quyết theo thẩm quyền.
Lê Xuân T gây thương tích của ông Trịnh Xuân H1 khi ông H1 ngăn cản T đâm bà C, tuy nhiên, ngày 24/6/2025, ông H1 có đơn xin bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự đối với T và ngày 10/7/2925, ông H1 có đơn từ chối giám định thương tích, nên Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Lê Xuân T có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s, v, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Giết người”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Xuân T 07 (Bảy) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/5/2025.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) áo sơ mi dài tay màu xanh, kích thước (63 x 54)cm, tay áo dài 57cm, trên áo bám dính nhiều chất màu nâu nghi máu; 01 (một) áo thun ngắn tay cổ tròn, màu trắng, mặt trước áo có dòng chữ “Brooklyn”, dài (70 x 55)cm, tay áo dài 20cm, trên áo bám dính nhiều chất màu nâu nghi máu; 04 (bốn) cục bông thấm chất màu nâu nghi máu sau giám định.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Gia Lai và Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai).
4. Về án phí HSST: Bị cáo Lê Xuân T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
| - Viện Phúc thẩm 2 tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Gia Lai; - Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Gia Lai; - Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai; - Cơ quan THAHS&HTTP CA tỉnh Gia Lai; - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai; - Phòng TTKT&THA tỉnh Gia Lai; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Xuân |