vanban.org

Bản án 156/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Dũng S về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Tiếp tục giao con chung tên Trần Vĩnh P, sinh ngày 01/11/2019 cho chị Lê Thị Cẩm L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Anh Trần Dũng S phải chịu 300.000 đồng. Ngày 24/5/2024 anh Trần Dũng S đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008710 tại … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Dũng S về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2024/HNGĐ-ST
Ngày 04 - 7 - 2024
V/v thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Việt Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Kha

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 308/2024/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Dũng S, sinh năm 1992 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Số 06/10 đường B, khóm T, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh S: Ông Đặng Huỳnh Quốc – là Luật sư Văn phòng luật sư Huỳnh Quốc, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Chị Lê Thị Cẩm L, sinh năm 1996 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Số 115, ấp G, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Trần Dũng S trình bày:

Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 107/2023/QĐCNTTLH ngày 03/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, giao cháu Trần Vĩnh P, sinh ngày 01/11/2019 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh S không cấp dưỡng nuôi con, anh S không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Nay anh S yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, lý do chị L không có nơi ở, không có việc làm, thu nhập không ổn định, chị L không trực tiếp nuôi con mà phải gửi nhờ ông bà nuôi hộ, không cho cháu P đi học. Ngược lại với chị L thì anh S có nơi ở và thu nhập ổn định, có đủ điều kiện nuôi cháu P tốt hơn, riêng cháu P cũng muốn được sống cùng anh S.

- Tại biên bản hòa giải ngày 14/6/2024 và tại phiên tòa, bị đơn chị Lê Thị Cẩm L trình bày:

Khi ly hôn, chị L và anh S đã thỏa thuận thống nhất giao cháu Trần Vĩnh P, sinh ngày 01/11/2019 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh S không cấp dưỡng nuôi con, anh S không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Nay anh S yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chị L không đồng ý, lý do ngày 16/4/2024 sau khi anh S chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, anh S có đến thăm con, rồi dẫn con về thăm ông bà nội đến nay không giao con lại cho chị nuôi, chị đã nhiều lần yêu cầu anh S giao con lại cho chị nuôi nhưng anh S không giao, anh S và người nhà còn ngăn cản không cho chị gặp mặt con. Anh S cho rằng chị không có nơi ở, không có việc làm, thu nhập không ổn định, không trực tiếp nuôi con mà phải gửi nhờ ông bà nuôi hộ, không cho cháu P đi học là hoàn toàn không đúng, chị đảm bảo có đủ các điều kiện nuôi dưỡng con tốt hơn anh S. Nếu giao con cho anh S nuôi sẽ không đảm bảo cho sự phát triển của con.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh S trình bày: Theo nguyện vọng của cháu P thì cháu P có nguyện vọng theo sống cùng anh S. Hơn nữa do anh S có nơi ở và thu nhập ổn định, có thời gian trực tiếp để nuôi dưỡng cháu P, có điều kiện tốt cho cháu P học hành. Đối với chị L do không có nơi ở, không có việc làm, thu nhập không ổn định, chị L không trực tiếp nuôi con mà phải gửi nhờ ông bà nuôi hộ, không cho cháu P đi học, không đảm bảo cho việc nuôi dưỡng cháu P. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh S, buộc chị L giao con lại cho anh S nuôi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Về nội dung tranh chấp: Anh Trần Dũng S yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu Tòa án giao con chung tên Trần Vĩnh P, sinh ngày 01/11/2019 từ chị L sang cho cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng. Ngược lại chị L không đồng ý, nên các bên P sinh tranh chấp.

Xét yêu cầu của anh S và lý do anh S đưa ra để yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Việc nuôi dưỡng con là quyền và nghĩa vụ của cha và mẹ, giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi và sự P triển về mọi mặt của con.

Xét về điều kiện trực tiếp nuôi con thì cả anh S và chị L đều đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Lý do anh S yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, là do chị L không có nơi ở, không có việc làm, thu nhập không ổn định, chị L không trực tiếp nuôi con mà phải gửi nhờ ông bà nuôi hộ, không cho cháu P đi học. Lý do anh S đưa ra chị L không thừa nhận. Tuy chị L không thừa nhận nhưng quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh S và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của anh S không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh. Mặc khác, tính đến ngày xét xử sơ thẩm xét thấy cháu P chưa tròn 05 tuổi, nên không thuộc trường hợp Tòa án xem xét nguyện vọng của cháu. Theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình thì một trong các căn cứ thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Từ những căn cứ trên, xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh S.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Anh S phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 35, 39 và 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Dũng S về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Tiếp tục giao con chung tên Trần Vĩnh P, sinh ngày 01/11/2019 cho chị Lê Thị Cẩm L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Anh Trần Dũng S phải chịu 300.000 đồng. Ngày 24/5/2024 anh Trần Dũng S đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008710 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu sung quỹ Nhà nước.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ