- Tranh chấp gì? án hành chính — "DƯƠNG XUÂN A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Căn cứ chính? Luật Đất đai; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 206 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ______________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156/2024/HC-PT Ngày: 12 - 3 - 2024 V/v khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Minh Tâm
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Văn Ý
Ông Đỗ Đình Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Duẩn, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 543/2023/TLPT-HC ngày 09/8/2023, về việc “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 41/2023/HC-ST ngày 12 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 434/2024/QĐPT-HC ngày 26 tháng 02 năm 2024; giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Dương Xuân Á, sinh năm 1978; Địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P;
Đại diện theo ủy quyền: ông Lê Thanh S, Phó chủ tịch (Giấy ủy quyền số 2491/UBND-NC ngày 11 tháng 5 năm 2023).
Địa chỉ: D T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: ông Võ Văn P, Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P.
Đại diện theo ủy quyền: ông Phan Thanh H, Phó Chủ tịch.
Địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
- Người kháng cáo: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P – người bị kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện ông Dương Xuân Á trình bày: thửa đất ông sử dụng có diện tích theo đo đạc của UBND xã T là 2.558,1m2, vị trí thửa đất tại thôn T, xã T, thành phố P; có tứ cận: Bắc giáp Bàu Sen, Nam giáp: đất ông Mười T, Tâp giáp: nhà ông Ba Đ, Nam giáp: đường đi; nguồn gốc thửa đất là của ông Nguyễn Văn Đ1 (S) đã sử dụng trước năm 1975, sau đó ông Đ1 cho vợ chồng ông Phạm Văn P1 (con rễ ông Đ1) sử dụng, rồi ông P1 mới cho con trai là Phạm Văn D.
Năm 2007 ông P1 và ông D chuyển nhượng lại cho ông với số tiền là 19.000.000 đồng, thời điểm ông D chuyển nhượng lại cho ông trên đất đã có sẵn dừa, mãng cầu, xoài… Do không am hiểu về pháp luật nên từ ngày nhận chuyển nhượng đến nay ông không đăng ký việc sử dụng đất tại địa phương; sau khi nhận chuyển nhượng từ gia đình ông P1, ông đã canh tác liên tục đến ngày bị Chủ tịch UBND thành phố P ra Quyết định số 6679/QĐ-XPHC, ngày 25/12/2022 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông.
Ông Dương Xuân Á cho rằng Chủ tịch UBND thành phố P ban hành Quyết định xử phạt nêu trên đối với ông là không đúng, nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận hủy toàn bộ Quyết định số 6679/QĐ-XPHC, ngày 25 tháng 12 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận
Người bị kiện UBND thành phố P trình bày: theo kết quả làm việc và xác minh của Ủy ban nhân dân xã T tại các biên bản ngày 17/10/2022, các ngày 03, 29/11/2022 và sơ đồ hiện trạng vị trí thửa đất do Chi nhánh Văn phòng Đ2 đo đạc ngày 22/7/2022; Ủy ban nhân dân xã T xác định ông Dương Xuân Á đã thực hiện hành vi chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn của Ủy ban nhân dân xã T quản lý. Diện tích chiếm đất là 2.558,1m2 tại khu vực B, xã T, thành phố P.
Vào lúc 09 giờ ngày 29/11/2022 Ủy ban nhân dân xã T lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai số 82/BB-VPHC về hành vi chiếm đất của ông Dương Xuân Á.
Trên cơ sở tờ trình số 142/TTr ngày 30/11/2022 của Ủy ban nhân dân xã T đề nghị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6679/QĐ-XPHC, ngày 25 tháng 12 năm 2022 đối với ông Dương Xuân Á.
Việc ông Dương Xuân Á yêu cầu hủy Quyết định số 6679/QĐ-XPHC, ngày 25 tháng 12 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận là không có căn cứ.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P xác định Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6679/QĐ-XPHC, ngày 25 tháng 12 năm 2022 là đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P trình bày: phần đất ông Dương Xuân Á bị xử phạt có diện tích theo kết quả đo đạc là 2.558,1m2 nguồn gốc là đất núi, do nhà nước quản lý. Trước năm 1975 ông Nguyễn Văn Đ1 (Sáu Đào) có trồng cây ăn trái như: ổi, mãng cầu trong một phần của thửa đất này, đến năm 1986 do không hiệu quả nên không canh tác nữa. Đến khi ông Đ1 qua đời thì ông P1 là con rể ông Đ1 mới lấy phần đất này bán cho ông Dương Xuân Á bằng giấy tay.
Ngày 25/02/2022 tổ công tác của UBND xã T đi kiểm tra thì phát hiện ông Á có hành vi tác động trên đất, nên đã lập biên bản và trình Chủ tịch UBND thành phố P ra quyết định xử phạt đối với ông Dương Xuân Á.
Đối với yêu cầu của người khởi kiện tuyên hủy Quyết định 6679/QĐ-XPHC, ngày 02/12/2022 của Chủ tịch UBND thành phố P, đây là thẩm quyền của Chủ tịch UBND thành phố P nên UBND xã T không có ý kiến.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 41/2023/HC-ST ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã tuyên xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 và khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính và Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của ông Dương Xuân Á.
Tuyên xử:
Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6679/QĐ-XPHC, ngày 25 tháng 12 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, án phí và quyền kháng của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26 tháng 5 năm 2023 người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban trình bày: Theo xác minh của Ủy ban nhân dân xã T tại các biên bản ngày 17/10/2022, các ngày 03, 29/11/2022 và sơ đồ hiện trạng vị trí thửa đất do Chi nhánh Văn phòng Đ2 đo đạc ngày 22/7/2022; Ủy ban nhân dân xã T xác định ông Dương Xuân Á đã thực hiện hành vi chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn của Ủy ban nhân dân xã T quản lý. Diện tích chiếm đất là 2.558,1m2 tại khu vực B, xã T, thành phố P. Vào lúc 09 giờ ngày 29/11/2022 Ủy ban nhân dân xã T lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai số 82/BB-VPHC về hành vi chiếm đất của ông Dương Xuân Á. Trên cơ sở tờ trình số 142/TTr ngày 30/11/2022 của Ủy ban nhân dân xã T đề nghị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6679/QĐ-XPHC, ngày 25 tháng 12 năm 2022 đối với ông Dương Xuân Á. Việc ông Dương Xuân Á yêu cầu hủy Quyết định số 6679/QĐ-XPHC, ngày 25 tháng 12 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận là không có căn cứ. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P xác định Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6679/QĐ-XPHC, ngày 25 tháng 12 năm 2022 là đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của người khởi kiện mà không xác minh, thu thập chứng cứ về cây trồng trên đất của ông Á. Mặt khác trên đất có ngôi mộ của người dân chôn trên đất này và đây là đất đồi núi chưa có ai đăng ký nên do UBND quản lý. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của Chủ tịch Ủy ban và sửa bản án sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ toạ phiên toà, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Xét thấy Thẩm phán chủ toạ phiên toà, các thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Đây là phiên tòa được mở lần thứ 2, nên việc ông Á1 là người khởi kiện không có kháng cáo vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt ông Á theo quy định.
Về nội dung kháng cáo: Bản án sơ thẩm tuyên xử Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6679/QĐ-XPHC, ngày 25 tháng 12 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của người bị kiện làm trong thời hạn, có nội dung, hình thức phù hợp và đã nộp tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm, nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Về sự vắng mặt của các đương sự:
Người kháng cáo Chủ tịch UBND thành phố P, tỉnh Bình Thuận tham gia tố tụng với tư cách là người bị kiện có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
Người khởi kiện ông Dương Xuân Á không có kháng cáo và đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do.
Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại Điều 225 Luật Tố tụng hành chính.
Xét kháng cáo của người bị kiện, nhận thấy:
Xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khởi kiện: Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P xác định ông Dương Xuân Á đã có hành vi chiếm đất chưa sử dụng do nhà nước quản lý.
Căn cứ bản đồ đo đạc qua các thời kỳ như bản đồ giải thửa 299 (đo năm 1992 – 1993); bản đồ đo đạc khép kín 2005 (đo năm 2004 – 2005), bản đồ địa chính đo đạc theo đề án 920: Vị trí đất ông Á chiếm không được đo đạc, không quy chủ là đất của hộ dân nào.
Căn cứ Biên bản họp dân ngày 03/11/2022: Các hộ dân có chung ý kiến thời điểm trước năm 1975 ông Nguyễn Văn Đ1 có canh tác sử dụng trồng một số cây ổi tại khu vực cây bồ đề trên phần đất thịt (đất cát), còn khu vực cây bồ đề đến các ngôi mộ từ trước đến nay không thấy ai canh tác, làm rẫy tại đây. Đến năm 1986 thì không thấy ai làm nữa và cũng không tác động đến đất (kể cả phần trước cây bồ đề và phần sau cây bồ đề).
Căn cứ Biên bản làm việc ngày 25/02/2022 của Ủy ban nhân dân xã T thì ông Dương Xuân Á mới chỉ phát dọn một số cây bụi và không có cây lâu năm gì trên đất.
Ngoài hiện trạng vị trí chiếm đất là đất núi, đá núi (thường gọi núi B), mặt khác trên đất còn có một số ngôi mộ của các hộ dân khác. Do vậy, nên các cơ quan có thẩm quyền đã quy chủ đất núi Bàu Sen là đất do Nhà nước quản lý (UBND xã T quản lý).
Căn cứ vào Điều 21, Điều 58 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai. Do đó, Chủ tịch UBND thành phố P xác định loại đất là đất do nhà nước quản lý để xử lý vi phạm hành chính về hành vi chiếm đất do Nhà nước quản lý đối với ông Dương Xuân Á là đúng.
Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy bản án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Xuân Á Vv yêu cầu hủy Quyết định số 6679/QĐ-XPHC, ngày 25 tháng 12 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P là không có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, sửa bản án sơ thẩm.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là không có căn cứ nên không chấp nhận.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên người bị kiện không phải chịu.
Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên ông Dương Xuân Á phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015,
Chấp nhận kháng cáo của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 41/2023/HC-ST ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều Điều 206, Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Xuân Á yêu cầu: Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6679/QĐ-XPHC, ngày 25 tháng 12 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm: Ông Dương Xuân Á phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hành chính sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008289 ngày 01/02/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận. Ông Á đã nộp xong.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
3. Về án phí hành chính phúc thẩm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm, hoàn lại cho UBND thành phố P số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tiền theo biên lai thu số 0015389 ngày 12/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Cục THADS tỉnh Bình Thuận; - Đương sự; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Minh Tâm |