- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Đồng Thị Thu B xin ly hôn ông Lê Văn T và giiar quyết con chung"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đồng Thị Thu B đối với ông Lê Văn T về việc “Tranh chấp ly hôn”.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156/2023/HNGĐ-ST Ngày 15 - 9 - 2023 V/v "Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhạn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Thị Kim Oanh.
2. Ông Nguyễn Thanh Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩn- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An tham gia phiên tòa: bà Phùng Thị Bông - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2023 tại: Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hội An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2023/TL.ST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24.7.2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/QĐST- HNGĐ ngày 16.8.2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đồng Thị Thu B, sinh năm: 1979.
Địa chỉ: đường V, phường C, thành phố H, tỉnh Q. Có mặt.
Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1977.
Địa chỉ: khối X, phường A, thành phố H, tỉnh Q. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 29.3.2023, tại các phiên làm việc và tại phiên toà hôm nay, bà Đồng Thị Thu B trình bày: bà và ông Lê Văn T cưới nhau và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Q vào năm 2003. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Cuộc sống chung của vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do chồng cờ bạc, gia đình đã khuyên nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi. Hiện nay cả hai đã không còn chung sống với nhau, bản thân cũng không còn tình cảm với chồng. Bà B đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với chồng là ông Lê Văn T để cả hai ổn định cuộc sống. Về con chung: có 01 con chung: Lê Đồng Minh Q, sinh ngày 18/10/2005, hiện đang ở với bà, sau khi ly hôn bà có nguyện vọng trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có.
- Tại bản trình bày ngày 08/5/2023 và phiên hòa giải tại Tòa án ông Lê Văn T trình bày: Vợ chồng ông đăng ký kết hôn vào năm 2003 tại Uỷ ban nhân dân phường A, thành phố H. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Cuộc sống chung vợ chồng đôi khi cũng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bản thân ông ham chơi, không quan tâm gia đình. Vợ chồng đã sống riêng 02 năm, nhưng ông vẫn luôn quan tâm đến vợ con. Hiện nay vợ ông đề nghị ly hôn ông không đồng ý vì vẫn còn tình cảm với vợ và muốn cùng vợ chăm sóc con. Về con chung có 01 con chung: Lê Đồng Minh Q, sinh ngày 18/10/2005, hiện đang ở với vợ. Ông T không đồng ý ly hôn, tuy nhiên trong trường hợp vợ chồng phải ly hôn ông đồng ý giao con cho vợ trực tiếp nuôi dưỡng và bản thân ông sẽ có trách nhiệm với con.
Về tài sản chung: không có.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Thư ký chấp hành đúng các quy định tại Điều 51, Điều 237 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Bị đơn ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: nhận thấy việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện bà Bảy. Về con chung giao cháu Lê Đồng Minh Q, sinh ngày 18/10/2005 cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng ông T không cấp dưỡng nuôi con.
Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Đồng Thị Thu B khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Lê Văn T có nơi cư trú tại khối M, phường A, thành phố H, tỉnh Q nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Q theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tham gia phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đồng Thị Thu B và ông Lê Văn T kết hôn vào năm 2003 đăng ký kết hôn Uỷ ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Q trên tinh thần tự nguyện, nên hôn nhân của họ là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do ông T thường xuyên cờ bạc, không có trách nhiệm với gia đình, bà B cũng đã nhiều lần tha thứ, bỏ qua nhưng vẫn không thay đổi. Bà B, ông T không còn sống chung với nhau hơn 02 năm; Xét thấy bà Đồng Thị Thu B và ông Lê Văn T hiện đã không còn chung sống với nhau, không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tình cảm không còn, bà B yêu cầu giải quyết ly hôn, ông T không đồng ý ly hôn nhưng khi Tòa án tiến hành hòa giải thì ông T cố tình trốn tránh không tham gia các phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Đồng Thị Thu B yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn T là có căn cứ. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Bà B, ông T có 01 con chung Lê Đồng Minh Q, sinh ngày 18/10/2005, hiện đang ở với mẹ, sau khi ly hôn bà B có nguyện vọng trực tiếp nuôi con và cháu có nguyện vọng ở với mẹ. Do đó, để đảm bảo về việc chăm sóc cháu và sự ổn định nên giao cháu Q cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết tại Tòa bà B không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: bà B và ông T trình bày không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà B phải chịu án phí vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, Điều 39, Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56, 58 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; điểm a, khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đồng Thị Thu B đối với ông Lê Văn T về việc “Tranh chấp ly hôn”.
1.Về hôn nhân: Cho bà Đồng Thị Thu B được ly hôn ông Lê Văn T.
2. Về con chung: có 01 con Lê Đồng Minh Q, sinh ngày 18/10/2005.
Giao cháu Q cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Ông T không cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con, có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3.Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) bà Đồng Thị Thu B phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007530 ngày 17/4/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố H. Bà B đã nộp đủ án phí.
Bà Đồng Thị Thu B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 15/9/2023). Ông Lê Văn T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi Nhận - TAND tỉnh Q; - VKSND thành phố H; - Chi cục THADS thành phố H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nhạn |