vanban.org

Bản án 156/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Vỏ Thị G về việc xin ly hôn với anh Phan Văn T.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Phan Huỳnh A, sinh ngày 17/4/2010 và Phan Huỳnh Hân, sinh ngày 07/12/2012 cho chị Vỏ Thị G tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phan Văn T phải cấp dưỡng nuôi cháu Phan Huỳnh A và Phan Huỳnh H mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 cháu. Cho đến khi cháu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vỏ Thị G xin ly hôn với Phan Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Vỏ Thị G về việc xin ly hôn với anh Phan Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI BÌNH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 8 năm 2023
“V/v xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Cương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Quốc Cường

Ông Đinh Chí Hiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như – Là thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 217/2023/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023 về việc yêu cầu xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 243/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vỏ Thị G, sinh năm 1987 (có mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp 1, xã TB, huyện B, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Phan Văn T, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp 1, xã TB, huyện B, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Vỏ Thị G trình bày tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa như sau:

Về hôn nhân: Chị và anh Phan Văn T chung sống với nhau vào năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện B vào ngày 13/02/2009. Trong thời gian chung sống đến nay hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, xung đột gia đình xãy ra không hàn gắn được. Nguyên nhân do anh T không quan tâm đến vợ con và có người phụ nữ khác. Nên chị và anh T đã ly thân khoảng 06 tháng nay. Chị xác định hiện vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh Phan Văn T.

Về con chung: Chị và anh Phan Văn T có 02 con chung tên Phan Huỳnh A sinh ngày 17/4/2010 và Phan Huỳnh H, sinh ngày 07/12/2012 hiện con đang sống cùng chị. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi 02 con chung và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi 02 con 4.000.000đ/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Chị xác định để vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị và anh T không có nợ chung.

- Đối với anh Phan Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nội dung tranh chấp giữa chị Vỏ Thị G và anh Phan Văn T được xác định là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh Phan Văn T có nơi cư trú tại xã TB, huyện B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Anh Phan Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập xét xử lần thứ hai theo quy định nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Vỏ Thị G và anh Phan Văn T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện B theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Hiện chị G yêu cầu xin ly hôn với anh T. Theo lời trình bày của chị G tại phiên tòa do vợ chồng sống không hợp nhau, và có nhiều mâu thuẫn, anh T không chăm lo gia đình nên anh chị đã ly thân khoảng 06 tháng nay. Đồng thời, trong suốt thời gian chị G yêu cầu ly hôn tại Tòa án thì anh T không đến Tòa án để hòa giải cũng như không gửi ý kiến của mình cho Tòa án, điều đó chứng tỏ anh T cũng không có ý thức hàn gắn. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống chung giữa Chị Vỏ Thị G và anh Phan Văn T mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đựơc, hiện Chị Vỏ Thị G và anh Phan Văn T mỗi người đã có cuộc sống riêng, không ai quan tâm chăm sóc ai. Do đó, có cơ sở chấp nhận lời trình bày và yêu cầu của chị G về việc xin ly hôn với anh T.

[3] Về con chung: Chị Vỏ Thị G và anh Phan Văn T có 02 con chung tên Phan Huỳnh A sinh ngày 17/4/2010 và Phan Huỳnh H, sinh ngày 07/12/2012 hiện 02 con đang sống cùng chị G. Khi ly hôn chị G yêu cầu nuôi 02 con chung. Xét thấy, hai cháu Huỳnh A và Huỳnh H hiện đang sống cùng mẹ, hai cháu cũng có nguyện vọng là sống cùng mẹ khi cha mẹ ly hôn nên tiếp tục giao cháu Huỳnh A và Huỳnh H cho chị G tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị G yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi mỗi người con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Anh T không có ý kiến gửi đến Tòa án.

Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Việc cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh T vắng mặt cũng không có ý kiến về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị G. Cho nên, căn cứ lời khai của chị G thì anh T có công việc là làm công nhân, căn cứ chi phí hợp lý ăn uống, học hành của các cháu tại địa phương. Nên chị G yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi mỗi người con 2.000.000 đồng/tháng là không phù hợp với khả năng kinh tế của anh T nên Hội đồng xét xử điều chỉnh lại mức cấp dưỡng mỗi người con là 1.000.000 đồng/tháng là phù hợp với nhu cầu thiết yếu của hai cháu Huỳnh Anh, và Huỳnh Hân.

Anh T không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: Chị G xác định tài sản chung chị và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị Gkhai không nợ ai nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị G phải chịu. Anh T phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 207, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Vỏ Thị G về việc xin ly hôn với anh Phan Văn T.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Phan Huỳnh A, sinh ngày 17/4/2010 và Phan Huỳnh Hân, sinh ngày 07/12/2012 cho chị Vỏ Thị G tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phan Văn T phải cấp dưỡng nuôi cháu Phan Huỳnh A và Phan Huỳnh H mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 cháu. Cho đến khi cháu A và cháu H đủ 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng tính kể từ ngày bản án có hiệu lực.

Kể từ ngày chị G có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh T không tự nguyện thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự và Luật Thi hành án dân sự.

Anh T không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung; nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, chị Vỏ Thị G phải chịu. Chị G đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0003742 vào ngày 27/6/2023 được đối trừ, chị G đã nộp đủ. Án phí về cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng anh T phải nộp, (chưa nộp).

T hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Vỏ Thị G có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phan Văn T quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ