- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N - Nguyễn Văn H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào các điều 9, 14, 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 7 - 2023 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Việt Khái.
Ông Nguyễn Ngọc Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 204/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 354/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1982 (có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 30/5/2023 và các văn bản kèm theo bà Nguyễn Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 2000, bà và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống thì giữa bà và ông H mâu thuẫn kéo dài, bất đồng quan điểm, xúc phạm lẫn nhau, bà và ông H đã hàn gắn nhiều lần nhưng không mang lại kết quả. Bà xác định là không còn tình cảm dành cho ông H. Do mâu thuẫn kéo dài mà không thể hàn gắn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, nên bà không thể đoàn tụ gia đình với ông H. Nay bà N yêu cầu Tòa án xét xử cho bà ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
Về con chung: Trong quá trình chung sống có hai người con chung tên Nguyễn Thanh N (giới tính nữ), sinh ngày 22/01/2001 và Nguyễn Đình V (giới tính nam), sinh ngày 26/02/2004. Hiện hai người con chung đã trưởng thành tự lao động nuôi sống bản thân nên không yều Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản hòa giải ngày 27/6/2023 bị đơn là ông Nguyễn Văn H trình bày:
- Về hôn nhân: Ông thống nhất phần trình bày của bà Nguyễn Thị N về thời gian chung sống và việc không có đăng ký kết hôn. Giữa ông và bà N chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, tuy nhiên ông vẫn còn tình thương dành cho bà N nên ông mong muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình, không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà N.
- Về con chung: Có hai người con chung tên Nguyễn Thanh N (giới tính nữ), sinh ngày 22/01/2001 và Nguyễn Đình V (giới tính nam), sinh ngày 26/02/2004. Hiện nay hai người con chung đã trưởng thành tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập xét xử nhiều lần nhưng ông H vẫn không tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần, nhưng ông H không cung cấp chứng cứ gì, ông H vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.
[2] Về hôn nhân: Vào năm 2000, bà N và ông H chung sống với nhau như vợ chồng, đến nay dẫn không đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cả hai xác định cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cải và xúc phạm lẫn nhau. Bà Nguyễn Thị N xác định không còn tình cảm dành cho ông H và bà N cương quyết ly hôn. Đối với yêu cầu của bà N, ông H không đồng ý và cho rằng còn tình thương với bà N mong muốn đòa tụ gia đình.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn H không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn H đã và đang trong tình trạng trầm trọng. Do hôn nhân giữa bà N và ông H đã vi phạm quy định về điều kiện kết hôn theo Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn H không được công nhận là vợ chồng.
[3] Về con chung: Có hai người con chung tên Nguyễn Thanh N (giới tính nữ), sinh ngày 22/01/2001 và Nguyễn Đình V (giới tính nam), sinh ngày 26/02/2004. Hiện hai người con chung đã trưởng thành tự lao động nuôi sống bản thân không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Không có, nên không đặt ra xem xét.
[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147 và 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng vào các điều 9, 14, 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn H là vợ chồng.
2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng. Bà Nguyễn Thị N đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0018957 ngày 30/5/2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được đối trừ, chuyển thu.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bà Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS (khi có hiệu lực); - Phòng KTNV&THA (TAND tỉnh Cà Mau); - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Ngọc Trọng |