- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị C khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Tạ Văn T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 156/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-6-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hồng;
2. Bà Đào Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: không tham gia.
Trong ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 218/2023/TLST-HNGĐ ngày 10
tháng 4 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 239/2023/QĐXX-ST ngày 24 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn
phiên tòa số 388/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023, giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1998; địa chỉ: số 54, ấp A, xã
H, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Tạ Văn T, sinh năm 1996; địa chỉ: số 182, ấp M, xã M,
huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị C trình bày:
vào năm 2018 bà C và ông T quen biết nhau và được hai bên gia đình tổ chức lễ
cưới, vợ chồng có đăng ký kết hôn vào ngày 21/3/2018 tại Ủy ban nhân dân xã
M, huyện C, tỉnh An Giang, thời gian đầu sống chung nhiều hạnh phúc nhưng về
sau phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân chủ yếu là vợ chồng bất đồng quan
điểm sống. Đến cuối năm 2022 vợ chồng đã ly thân, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Đến nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, không thể cùng nhau tiếp tục cuộc sống vợ chồng cho nên bà C cùng con gái về nhà mẹ ruột để sinh sống. Nay yêu cầu được ly hôn với ông Tạ Văn T; về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên là Tạ Khánh V, sinh ngày 12/6/2019, hiện đang sống với bà C, khi ly hôn bà C yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và về nợ chung: không có.
Bị đơn ông Tạ Văn T không gửi ý kiến cho Tòa án, vắng mặt trong suốt
quá trình tố tụng tại Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Nguyễn Thị C khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Tạ
Văn T. Ông T có nơi cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Ông Tạ Văn T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai
nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị C và ông Tạ Văn
T là hợp pháp vì ông bà có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng ông bà sống không hợp nhau, theo nguyên đơn trình bày là phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Đến cuối năm 2022 vợ chồng đã ly thân, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Đến nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, không thể cùng nhau tiếp tục cuộc sống vợ chồng cho nên bà C cùng con gái về nhà mẹ ruột để sinh sống. Hội đồng xét xử thấy rằng bà C xin ky hôn với ông T, bà C, ông T không còn sống chung đến nay là một khoảng thời gian dài, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà C.
Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị C xác định vợ chồng có 01 con
chung tên là Tạ Khánh V, sinh ngày 12/6/2019, khi ly hôn bà C yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Xét thấy, con chung đang được bà C chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp cháu V phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu V cho bà C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.Bà C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.
Về quan hệ tài sản chung: Bà C khởi kiện xác định không yêu cầu Tòa
án giải quyết nên không xét đến.
Về nợ chung: Không có nên không xét đến.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí theo quy định của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào,
- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.
1) Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị C ly hôn với ông Tạ Văn T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 21 ngày 21/3/2018 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ An,
huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp, không còn giá trị pháp lý.
2) Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị C được tiếp tục nuôi con chung
tên là Tạ Khánh V, sinh ngày 12/6/2019. Ông Tạ Văn T không phải cấp dưỡng
nuôi con.
Bà Nguyễn Thị C cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản
trở ông Tạ Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có
thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc
cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3) Về quan hệ tài sản chung: Bà Nguyễn Thị C khởi kiện xác định không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
4) Về nợ chung: Không có nên không xét đến.
5) Về án phí: Bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là
300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm nộp
án phí đã nộp 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số
0013454 ngày 07/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh
An Giang. Bà Nguyễn Thị C đã nộp đủ.
6) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự
có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc
thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H. Chợ Mới; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - UBND xã M, huyện C, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hùng |