- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Châu Hồng Phương khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trương Quốc Phục"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Không công nhận bà Châu Hồng P và ông Trương Quốc P là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156/2022/HNGĐ-ST Ngày 19-9-2022. V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Chí Công.
Bà Phạm Hồng Ân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 19 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 241/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 376/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Châu Hồng P, sinh năm 1978 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Trương Quốc P, sinh năm 1966 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 7 năm 2022 cùng các văn bản khác kèm theo, nguyên đơn bà Châu Hồng P trình bày: Vào năm 2000 bà và ông Trương Quốc P chung sống với nhau như vợ chồng nhưng đến nay không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống giữa bà và ông P xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hòa hợp nên cuộc sống hôn nhân giữa bà với ông P không còn hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Trương Quốc P. Về con chung, có hai người tên là Trương P Quyên (giới tính nữ), sinh năm 2000 và Trương Quyên T (giới tính nữ), sinh ngày 07 tháng 7 năm 2005, đối với Trương P Quyên hiện đã thành niên và có khả năng tự lao động nên bà không yêu cầu giải quyết. Riêng Trương Quyên T hiện đang sống với bà nên khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trương Quốc P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Đồng thời, cũng không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà Châu Hồng P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Việc bà Châu Hồng P khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trương Quốc P là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Trương Quốc P cư trú tại ấp G, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Châu Hồng P vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trương Quốc P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Châu Hồng P và ông Trương Quốc P đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân, bà Châu Hồng P và ông Trương Quốc P chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000 đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân giữa bà Châu Hồng P và ông Trương Quốc P vi phạm quy định về đăng ký kết hôn. Do đó, căn cứ vào quy định tại các Điều 9, 14 của Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa bà Châu Hồng P và ông Trương Quốc P không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà Châu Hồng P và ông Trương Quốc P không được công nhận là vợ chồng.
Về con chung, đối với người con chung tên là Trương P Quyên (giới tính nữ), sinh năm 2000, hiện đã thành niên và có khả năng tự lao động nên không đặt ra xem xét. Riêng Trương Quyên T (giới tính nữ), sinh ngày 07 tháng 7 năm 2005, hiện do bà P đã nuôi dưỡng nên bà P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng. Ông P không có ý kiến đối với yêu cầu được nuôi con của bà P. Từ đó, giao người con chung tên Trương Quyên T cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Bà P không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
Chị Châu Hồng P xác định tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Trương Quốc P không có ý kiến về những vấn đề trên nên không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Châu Hồng P phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng các Điều 9, 14, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
1. Tuyên bố: Không công nhận bà Châu Hồng P và ông Trương Quốc P là vợ chồng.
2. Về con chung, giao bà Châu Hồng P trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên là Trương Quyên T (giới tính nữ), sinh ngày 07 tháng 7 năm 2005. Ông Trương Quốc P không cấp dưỡng nuôi con.
Ông Trương Quốc P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Châu Hồng P phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0018070, ngày 11 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên bà Châu Hồng P đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Huệ |