- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156 /2022/HNGĐ-ST Ngày: 05/5/2022 V/v tranh chấp “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Duy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Thị Út Mỹ.
2. Bà Lê Thị Ngọc Thúy.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 286/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2021, về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Quốc C, sinh năm 1987. (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 2001. (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn ngày 02/11/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Quốc C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị H tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang vào năm 2019. Sau khi cưới anh chị đi làm và sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, anh chị về nhà cha mẹ anh tại ấp L, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang sinh sống và trong thời gian này chị H có xảy ra mâu thuẫn với mẹ anh, chị H đánh nhau với mẹ anh do mâu thuẫn về tiền bạc và mâu thuẫn trong sinh hoạt hàng ngày. Sau đó, anh và chị H lên Tây Ninh sinh sống và làm việc. Khi dịch covid xảy ra vào tháng 6/2021, anh phải thực hiện 03 tại chỗ thì anh phát hiện chị H ngoại tình với người đàn ông khác nên anh leo rào công ty về nhà kêu chị H mở cửa phòng thì chị H không mở mà còn chụp hình đang thân mật với người đàn ông khác gửi cho anh. Sau đó, do nóng giận anh có đánh chị H 02 cái bằng tay và chị H dọn quần áo ẵm theo con chung bỏ đi. Anh phải đi khắp nơi tìm kiếm, khoảng vài ngày sau thì chị H đem con giao lại cho anh và bỏ đi đâu anh không rõ. Sau đó, anh đem con về nhà cha mẹ sinh sống cho đến nay. Anh chị đã ly thân từ tháng 9/2021 cho đến nay và các bên cũng không liên hệ để trao đổi hàn gắn tình cảm. Nay tình cảm không còn anh yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ H.
- Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Trần Nguyễn Mỹ L, sinh ngày 21/4/2020. Hiện nay, con chung đang sống với anh. Ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Quốc C cho anh C được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ H.
Về con chung: Giao con chung tên Trần Nguyễn Mỹ L, sinh ngày 21/4/2020 cho anh C được tiếp tục nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện G theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Trần Quốc C có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H vắng mặt không lý do dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị H tham gia phiên tòa lần thứ hai, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện G không có ý kiến về việc vắng mặt nguyên đơn anh Trần Quốc C, bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh C và chị H kết hôn vào năm 2019, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 97, ngày 16/12/2019 nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của anh C, căn cứ vào lời khai của anh C và kết quả xác minh tại địa phương, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân của vợ chồng anh đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2019, do chị H có mâu thuẫn với mẹ của anh, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng khi đến tháng 6/2021 anh phát hiện chị H ngoại tình; anh chị đã sống ly thân từ tháng 9/2021 cho đến nay và các bên cũng không có liên hệ để trao đổi hàn gắn tình cảm. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, chị H không đến Tòa án, không phản đối yêu cầu ly hôn của anh C, căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự xem như chị H mặc nhiên thừa nhận vợ chồng chung sống có phát sinh mâu thuẫn như anh C trình bày, nay chị H không muốn hàn gắn tình cảm và cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Từ những tình tiết nêu trên, xác định mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu của anh C, cho anh C được ly hôn với chị H là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh C và chị H có 01 con chung tên Trần Nguyễn Mỹ L, sinh ngày 21/4/2020. Xét thấy, hiện nay cháu L đang sống với anh C. Chị H không đến tham gia phiên tòa cũng không có văn bản trình bày ý kiến về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chứng tỏ chị H không quan tâm, chăm sóc con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu L theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của anh C là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, nên giao con chung tên Trần Nguyễn Mỹ L, sinh ngày 21/4/2020 cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con anh C không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con và chị H cũng không có văn bản thể hiện ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử nhận thấy chị H chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh C chưa có yêu cầu là phù hợp với quy định pháp luật. Nếu sau này anh C, chị H có tranh chấp về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con sẽ khởi kiện bằng vụ án khác sau ly hôn.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không Hội đồng xét xử không xem xét đến.
Về án phí: Anh C có yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Trần Quốc C, cho anh C được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ H.
2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Nguyễn Mỹ L, sinh ngày 21/4/2020 cho anh Trần Quốc C trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị Nguyễn Thị Mỹ H không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Trần Quốc C chưa có yêu cầu.
Anh Trần Quốc C cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở chị Nguyễn Thị Mỹ H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về án phí: Anh Trần Quốc C phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) đồng theo biên lai thu số 0007388 ngày 18/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G nên xem như anh đã nộp xong án phí.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H.G; - CC.THADS H.G; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Ngọc Duy Linh |