vanban.org

Bản án 156/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 21/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đắc M (tên gọi khác: Nguyễn Đắc Ma) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc M (tên gọi khác: Nguyễn Đắc Ma) 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 07/4/2021. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đắc M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đắc M (tên gọi khác: Nguyễn Đắc Ma) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2021/HS-ST
Ngày 21 – 7 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thanh Ngọc.

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liên và bà Hoàng Thảo Yến.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 21/7/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 174/2021/HSST ngày 23 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Đắc M (tên gọi khác: Nguyễn Đắc Ma), sinh năm 1998.

HKTT: Thôn Thiểm Xuyên, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đắc P, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1979; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1997, con: 01 con sinh năm 2018.

Tiền sự: Không.

Tiền án: - Bản án số 41/PT ngày 04/8/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt M 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 30/01/2017 chấp hành xong.

- Bản án số 245/HSST ngày 15/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt M 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 28/01/2020 chấp hành xong.

Nhân thân: - Quyết định số 634/QĐ-UB ngày 09/5/2012 của UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh quyết định đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng. Chấp hành xong ngày 26/01/2014.

- Quyết định số 04 ngày 25/12/2014 Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/4/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Lương Văn T, sinh năm 1984; HKTT: Khu Đương Xá 2, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1997; HKTT: Thôn Thiểm Xuyên, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 07/4/2021, Nguyễn Đắc M, sinh năm 1998; HKTT: Thôn Thiểm Xuyên, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh gọi điện cho Nguyễn Văn T là bạn M quen từ tháng 3/2021 thì được T rủ lên thành phố B để xem ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. M đồng ý, T bảo M chuẩn bị 01 kìm cắt sắt nhưng M không mượn được nên T bảo M đi đến khu vực Ấp Đồn, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để đón T. Sau đó, M mượn xe nhãn hiệu Honda Wave BKS: 99D1-43714 của bố Minh là ông Nguyễn Đắc Phú, sinh năm 1974; HKTT: Thôn Thiểm Xuyên, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để chở vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1997 đến công ty làm. Sau đó, M điều khiển xe di chuyển đến Ấp Đồn, huyện Y để đón Thái. Sau khi gặp nhau M và T cùng bàn bạc thống nhất sẽ đi đến khu vực thành phố B tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp. M điều khiển xe mô tô và có trách nhiệm đứng ngoài cảnh giới, còn T ngồi sau quan sát xem có tài sản sơ hở thì sẽ trực tiếp trộm cắp. Khi đi đến bờ đê thuộc khu vực Đương Xá 2, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh thì T quan sát thấy có một nhà dân, là nhà của anh Lương Văn C, cửa cổng mở, bên trong sân có dựng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha sơn màu đỏ đen mang BKS: 99H9-1693 của anh Lương Văn T, sinh năm 1984; HKTT: Khu Đương Xá 2, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để nhờ tại sân nhà anh C. Xe không khóa cổ, khóa càng, chỉ khóa điện. Sau khi phát hiện tài sản sơ hở, T bảo M dừng xe lại cảnh giới còn T đi vào nhà anh C để trực tiếp trộm cắp xe. Khoảng 01 phút sau, T dắt bộ chiếc xe từ cổng ra và đi về phía M. Do không có vam phá khóa nên T đã ngồi lên chiếc xe vừa trộm cắp được để điều khiển, còn M điều khiển chiếc xe Honda Wave mang BKS: 99D1-43714 và dùng chân phải đẩy chiếc xe trên để bỏ chạy. Đi được một đoạn thì T bảo M đổi vị trí để T đẩy xe vì M không biết đẩy. Khi M và T đẩy xe đến khu vực khu Khúc Toại, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh thì bị lực lượng Công an và người dân phối hợp đuổi theo bắt giữ được M cùng chiếc xe mô tô mang BKS: 99H9-1693, còn T điều khiển xe mang BKS: 99D1-43714 chạy thoát.

Tại bản kết luận định giá số 48/KL- HĐĐGTS ngày 09/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave Alpha, màu đỏ đen, BKS: 99H9-1693 cũ, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có giá trị là 5.600.000 đồng.

Ngày 14/4/2021 ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1961; HKTT: Thôn Xuân Lai, xã X, huyện S, thành phố Hà Nội tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave sơn màu xanh mang BKS: 99D1-43714 đang để trong nhà ông cho Cơ quan điều tra.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 105/CT-VKSTPBN ngày 23 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố Nguyễn Đắc M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Quá trình xét hỏi tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đắc M khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Bị hại anh Lương Văn T vắng mặt tại phiên tòa. Tại các lời khai anh T xác nhận đã nhận lại đầy đủ tài sản nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị xử lý bị cáo nghiêm theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa. Tại lời khai chị L xác nhận chiếc điện thoại bị cáo sử dụng liên lạc với T là của chị. Chị không biết và bị cáo không nói cho chị biết bị cáo, T rủ nhau đi trộm cắp tài sản, dùng điện thoại của chị để liên lạc với nhau.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên Cáo trạng truy tố Nguyễn Đắc M (tên gọi khác: Nguyễn Đắc Ma) về tội “Trộm cắp tài sản” đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đắc M từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Trả lại chị Nguyễn Thị L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 PLUS màu Gold.

Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0395238868 gắn bên trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 PLUS màu Gold.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

- Ý kiến bị cáo: Bị cáo nhất trí với phần luận tội về tội danh và hình phạt.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với không gian, phù hợp với thời gian, địa điểm, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ 35 phút ngày 07/4/2021, tại bờ đê sông Ngũ Huyện Khê thuộc khu phố Đương Xá 2, phường V, thành phố B Nguyễn Đắc M có hành vi lén lút trộm cắp của anh Lương Văn T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha sơn màu đỏ đen BKS: 99H9-1693 đã qua sử dụng trị giá 5.600.000 đồng nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Bản án số 245/2018/HSST ngày 15/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Minh 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy” và bị áp dụng tình tiết tái phạm, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Vậy, cáo trạng truy tố số 105/CT-VKSTPBN ngày 23 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Nguyễn Đắc Mvề tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị các cơ quan Nhà nước xử phạt và được đưa vào trường giáo dưỡng nhằm giáo dục nhưng bị cáo lại không lấy đó làm bài học cho bản thân. Chứng tỏ bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém và có nhân thân xấu nên phải xử lý nghiêm khắc.

Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo HĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa, chống tội phạm chung.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cũng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập và tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lương Văn T đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Về tang vật chứng: Ngày 17/5/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha sơn màu đỏ đen BKS: 99H9-1693 đã qua sử dụng cho anh Lương Văn T. Đây là tài sản hợp pháp của người bị hại nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại là phù hợp.

Ngày 21/5/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại 01 chiếc xe mô tô mang BKS: 99D1-43714 cho ông Nguyễn Đắc Phú. Đây là xe ông Phú cho bị cáo Minh mượn, ông không biết và Phú cũng không nói cho ông biết mượn xe để đi thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 PLUS màu Gold. Đây là tài sản của chị Nguyễn Thị L. Chị Lan không biết và bị cáo Minh không nói cho chị việc lấy điện thoại để liên lạc với Thái rủ nhau đi trộm cắp tài sản nên cần trả lại chị Nguyễn Thị L.

Đối với 01 sim điện thoại số 0395238868 gắn bên trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 PLUS màu Gold là của bị cáo dùng để liên lạc với Thái đi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 usb bên trong lưu giữ đoạn video ghi lại sự việc trộm cắp tài sản xảy ra tại khu Đương Xá 2, phường Vạn A, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh ngày 07/4/2021 được niêm phong và lưu trữ trong hồ sơ.

Đối với đối tượng Nguyễn Văn T là người được Minh gọi điện đến. Sau đó, Thái rủ Minh cùng đi trộm cắp và là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô mang BKS: 99H9-1693. Tuy nhiên, quá trình bắt giữ Thái đã chạy mất. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành xác minh đối tượng Thái và số điện thoại của Thái như Minh đã khai. Tuy nhiên, Thái thường xuyên không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì gia đình và địa phương không nắm được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã có Công văn đề nghị Tập đoàn bưu chính viễn thông Quân đội Viettel, chi nhánh Bắc Ninh cung cấp thông tin của số bao Minh đã gọi và được Thái rủ đi trộm cắp nhưng đến nay chưa xác định được con người cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ tiến hành xử lý sau là phù hợp.

Đối với ông Nguyễn Đắc P bố đẻ của bị cáo M. Quá trình điều tra xác định ông không biết và bị cáo cũng không nói cho ông P biết việc bị cáo, T rủ nhau đi trộm cắp tài sản và dùng chiếc xe mô tô mang BKS: 99D1-43714 để phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý đối với ông Phú là phù hợp.

Đối với ông Nguyễn Hữu K là bố đẻ của đối tượng Nguyễn Văn T đã tự nguyện giao chiếc xe mô tô mang BKS 99D1-43714 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để phục vụ điều tra. Ông không biết chiếc xe trên Thái dùng để phạm tội và việc T, M rủ nhau đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý đối với ông Khánh là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đắc M (tên gọi khác: Nguyễn Đắc Ma) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc M (tên gọi khác: Nguyễn Đắc Ma) 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 07/4/2021. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

- Về vật chứng: Trả lại chị Nguyễn Thị L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 PLUS màu Gold.

Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0395238868 gắn bên trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 PLUS màu Gold. (Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 15/6/2021 giữa Công an thành phố B với Chi cục thi hành án dân sự thành phố B).

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.

Cỡ chữ