vanban.org

Bản án 156/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 19/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trần Thị Như K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Trần Thị Như K 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BC: Lê Trần Thị Như Khuya - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Trần Thị Như K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
QUẬN NINH KIỀU
TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2021/HS-ST
Ngày: 19/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, TP. CẦN THƠ

- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thanh Đào

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Hoàng Vũ

2. Bà Trần Thị Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoài PH - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 150/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 981/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

Lê Trần Thị Như K, sinh năm 1983, tại Cần Thơ; Nơi cư trú: khu vực 2, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, TP. Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Lê Văn K, sinh năm 1957 (sống) và bà Trần Thị K, sinh năm 1962 (sống); Em ruột: 02 người, sinh năm 1981 và 1989; Sống chung như vợ chồng với Lê Văn Linh, sinh năm: 1991; Con ruột: 04 người, sinh năm 2003, 2010, 2017, 2022.

Tiền sự: 01 lần, ngày 15/10/2021 bị Công an quận Cái Răng, TP. Cần Thơ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, chưa đóng phạt.

Tiền án: không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: bà Lê Thị H, sinh năm 1972. Địa chỉ: đường 3/2, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.(vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Việt Th, sinh năm 1985. Địa chỉ: 88/2 khu vực 1, phường An Bình, quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.(có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Ông Lê Ngọc Đ, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp Tân Phú, thị trấn Cái Tắc, huyện Châu Th A, tỉnh Hậu Giang.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 05/8/2022, Lê Trần Thị Như K thuê xe, mô tô chở khách từ huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang đến quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ rồi một mình đi bộ các tuyến đường để tìm lại tài sản lấy trộm. Khi đi đến trước nhà trọ số 107/4A đường 3/2 phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ thì K phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva biển số 65H6-0015 của bà Lê Thị H không có người trông coi, trên ổ khóa xe có ghim chìa khóa nên K lên xe nổ máy điều khiển pH tiện tẩu thoát về quận Cái Răng, TP. Cần Thơ, K mở cốp xe mô tô vừa lấy trộm phát hiện bên trong có 01 túi màu đen chứa nhiều nữ trang màu vàng nên K lấy số nữ trang bỏ vào túi áo khoác. Sau đó, K điều khiển xe mô tô trộm cắp được đến Doanh nghiệp tư nhân Gia Lạc (địa chỉ 88/2 khu vực 1, phường An Bình, quận Ninh Kiều) do anh Nguyễn Việt Th quản lý, gặp Lê Ngọc Đ cầm cố với giá 1.500.000 đồng nhưng K không lấy tiền mà đổi (chuộc) lại 01 xe mô tô hiệu Yamaha Mio mà trước đó K đã cầm cố tại đây với giá 1.500.000 đồng. Đối với số nữ trang K mang về cất giữ tại phòng trọ.

Cơ quan công an tiến hành trích xuất dữ liệu camera, đối chiếu hình ảnh, truy xét các đối tượng tình nghi thì xác định được Lê Trần Thị Như K là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. (bút lục 30, 91-97,135)

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Trần Thị Như K tại phòng số 9 nhà trọ Hồng Yến, ấp Đông Thuận, xã Đông Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, Cơ quan Công an thu giữ: 01 nhẫn tròn bằng kim loại màu trắng, đính hột đá màu tím; 01 nhẫn tròn kim loại màu vàng, đính hột đá màu trắng; 01 vòng đeo tay bằng kim loại màu trắng, đính nhiều hột đá màu trắng; 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng đá hình phật màu xanh; 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng; 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền tròn đính hột đá màu trắng; 01 dây chuyền tròn bằng kim loại màu vàng; 01 áo khoác dài tay màu hồng; 01 quần dài bằng vải màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu trắng có chữ Gucci phía trước. (bút lục 35-37)

Tiếp tục khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Việt Th tại địa chỉ 88/2 khu vực 1, phường An Bình, quận Ninh Kiều, thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Suzuki Viva màu xanh biển số: 65H6 – 0015, số khung: RLSBE4AB040116503, số máy: E438VN116503 và 10 xe mô tô các loại. (bút lục: 33-34)

Tại Kết luận định giá tài sản số 1573/KL-HĐĐG ngày 25/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân quận Ninh Kiều xác định: RLSBE4AB040116503, số máy: E438VN116503 có giá trị 4.500.000 đồng. (bút lục: 20-23)

Đối với số trang sức màu vàng thu giữ Công ty Cổ phần vàng bạc đá quý SIC Cần Thơ đã kiểm tra, thẩm định xác định là vàng giả. (bút lục: 38-39, 41)

Tại Cơ quan điều tra, Lê Trần Thị Như K thừa nhận hành vi phạm tội.

Đối với Nguyễn Việt Th thừa nhận từ tháng 5/2022 đến tháng 8/2022, Th nhận cầm cố xe mô tô của nhiều người, không yêu cầu những người cầm xe giấy đăng ký xe cũng như không làm biên nhận cầm xe hoặc giấy tờ gì khác. Xét thấy hành vi của Nguyễn Việt Th chưa đủ yếu tố cấu Th tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Ninh Kiều chuyển toàn bộ tang vật liên quan là 10 xe mô tô các loại đến Công an quận Ninh Kiều để xử lý theo quy định. (bút lục 128-129)

Đối với bà Lê Thị H, quá trình điều tra ban đầu, mặc dù số trang sức bị mất là vàng giả nhưng bà H khai báo nội dung không đúng sự thật, gây khó khăn cho công tác điều tra nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ninh Kiều đề nghị Công an quận Ninh Kiều quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng đối với bà Lê Thị H. (bút lục: 125-126)

Cơ quan điều tra xử lý vật chứng trả lại tài sản liên quan là 01 xe mô tô Suzuki Viva biển số 65H6-0015 và toàn bộ số trang sức giả cho bà Lê Thị H. (bút lục: 40, 127, 132).

Về trách nhiệm dân sự, bà Lê Thị H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác về dân sự, ông Nguyễn Việt Th không yêu cầu gì đối với bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số: 147/CT-VKSNK ngày 15/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Lê Trần Thị Như K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên Tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, không bổ sung gì thêm, đồng thời phân tích tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Trần Thị Như K từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù Về xử lý tang vật, vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử lý theo quy định pháp luật như sau:

- Đối với 01 áo khoác dài tay màu hồng, 01 quần dài bằng vải màu xanh, 01 nón bảo hiểm màu trắng có chữ Gucci phía trước nón, đây là vật dụng bị cáo mặc để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, hiện không còn giá trị sử dụng, do đó tịch thu tiêu hủy;

- Ghi nhận việc Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô Suzuki Viva biển số 65H6-0015 và toàn bộ số trang sức giả cho bà Lê Thị H;

Về trách nhiệm dân sự: đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác, ông Nguyễn Việt Th không yêu cầu gì đối với bị cáo.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức về việc làm của bị cáo đã vi phạm pháp luật. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ninh Kiều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Điều này cho thấy: Vào khoảng 08 giờ ngày 05/8/2022, Lê Trần Thị Như K, bị cáo đã lợi dụng sở hở của bị hại, bị cáo để ý không có người trông coi, trên ổ khóa xe có ghim chìa khóa nên lén lút lấy trộm tài sản là là 01 xe mô tô hiệu Suzuki Viva màu xanh biển số: 65H6 – 0015 và số vàng giả gồm: 01 nhẫn tròn bằng kim loại màu trắng, đính hột đá màu tím; 01 nhẫn tròn kim loại màu vàng, đính hột đá màu trắng; 01 vòng đeo tay bằng kim loại màu trắng, đính nhiều hột đá màu trắng; 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng đá hình phật màu xanh; 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng; 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền tròn đính hột đá màu trắng; 01 dây chuyền tròn bằng kim loại màu vàng; Tại Kết luận định giá tài sản số 1573/KL-HĐĐG ngày 25/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân quận Ninh Kiều xác định: RLSBE4AB040116503, số máy: E438VN116503 có giá trị 4.500.000 đồng.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ truy tố bị cáo Lê Trần Thị Như K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, có 01 tiền sự vào ngày 15/10/2021 bị Công an quận Cái Răng, TP. Cần Thơ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, chưa đóng phạt. Trong thời gian bị cáo tại ngoại, bị cáo còn tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, bị cáo có nhân thân không tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội khi bị cáo đang mang thai. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, n, s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo đã Th niên, có đủ năng lực hành vi, có sức khỏe và khả năng lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người bị hại để lén lút lấy trộm tài sản. Bị cáo biết rõ lấy trộm tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ và xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa pH. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung.

Vì vậy, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

Riêng đối với Nguyễn Việt Th, Lê Ngọc Đ, bị cáo khai nhận là cầm tài sản lấy trộm cho ông Th, ông Đ. Qua xác minh, cũng như lời khai thì ông Th, ông Đ cho rằng: không biết đây là tài sản bị cáo trộm. Nên chưa có cơ sở để chứng minh những người này có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên không đặt ra xem xét trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu hồng, 01 quần dài bằng vải màu xanh, 01 nón bảo hiểm màu trắng có chữ Gucci phía trước nón.

+ Ghi nhận việc Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô Suzuki Viva biển số 65H6-0015 và toàn bộ số trang sức giả cho bà Lê Thị H;

- Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, ông Nguyễn Việt Th không yêu cầu gì đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm i, n, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trần Thị Như K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Trần Thị Như K 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo khoác dài tay màu hồng, 01 (một) quần dài bằng vải màu xanh, 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng có chữ Gucci phía trước nón.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng vụ án số: 127/QĐ-VKSNK ngày 15/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ);

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ