- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Quyết t và Vũ Duy N phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lê Quyết T và Vũ Duy N đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156/2020/HS-ST Ngày: 19 - 5 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N V NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Mai Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đăng Cường
Bà Hồ Thị Lan
-Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quang Sơn - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 và 19 tháng 5 năm 2020 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Quyết T; sinh ngày 20 tháng 6 năm 1983, tại tỉnh Phú Thọ
Nơi cư trú: thôn 3, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; giới tính: Nam; quốc tịch: V Nam; con ông: không xác định; và bà: Lê Thị S; vợ là Nguyễn Thị Lan A, có 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: chưa; Bị bắt ngày 11/11/2019, tạm giam đến ngày 20/01/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “bảo lĩnh”; từ ngày 20/3/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Vũ Duy N; sinh ngày 10 tháng 6 năm 1993, tại tỉnh Lai Châu
Nơi cư trú: tổ dân phố 6, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 10/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc tịch: V Nam; con ông: Vũ Đức N; và bà: Lê Thị H; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: chưa; Bị bắt ngày 11/11/2019, tạm giam đến ngày 20/01/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “bảo lĩnh”, từ ngày 20/3/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Hồ Văn C (tên gọi khác: Cường); sinh năm 1984. Địa chỉ: 112 H, phường 13, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử án vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị T; sinh năm 1988. Địa chỉ: 112 H, phường 13, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử án vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: năm 2017, Lê Quyết T có quen biết và giới thiệu cho anh Hồ Văn C (tức Cường) kinh doanh dự án trên mạng Internet sử dụng đồng Bitcoin, T còn cho anh C mượn 01 Bitcoin để đầu tư. Sau đó, T đòi lại 01 Bitcoin này nhiều lần nhưng anh C chưa trả và chặn các số điện thoại làm T không liên lạc được.
Ngày 13/10/2019, T tham gia sự kiện về tài chính tại khách sạn FLC H, thuộc phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, thì nhìn thấy anh C cũng tham gia. T liền nhờ chị Trịnh Thị V (tức V) làm quen với C, rồi hẹn C đến một địa điểm khác nói chuyện để T đến gặp và đòi nợ C 01 Bitcoin. Chị V đồng ý. T đã chỉ mặt anh C cho chị V biết để tiếp cận tự làm quen. Tương tự như nhờ chị V, T cũng nhờ Vũ Duy N phối hợp với chị V để làm quen với anh C. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, qua mạng xã hội Zalo, chị V đã kết bạn làm quen được với anh C và hẹn sẽ gặp nhau sau khi ăn tối tại sự kiện. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, sau khi ăn tối tại khách sạn M, thuộc phường B, thành phố H xong, T tiếp tục nhờ các anh Cao Đình T, Tống Đức V, Trần Văn T đi cùng để tạo số đông cùng T đòi anh C 01 Bitcoin, tất cả đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mescedes, biển kiểm soát 30A-675.16 chở cả bọn đến quán nước mía, sầu riêng tại ki ốt B132, thuộc khu 1 phường B, thành phố H, là nơi chị V đã hẹn anh C uống nước, rồi để chị V xuống xe. T điều khiển xe ô tô đi tiếp về hướng cầu B khoảng 500m thì dừng lại chờ đợi. Tại ki ốt B132, khi anh C đến thì chị V dùng điện thoại báo cho T, T liền điều khiển xe chở mọi người quay lại quán. Đến nơi, N, T, T, V vào ngồi ở các bàn xung quanh bàn cả anh C, còn T vào sau. Nhìn thấy T đến, anh C đứng dậy đi về thì T kéo áo anh C quay lại ngồi xuống chỗ cũ. T ngồi cạnh anh C và nói “tôi cho ông mượn 01 Bitcoin từ năm 2017 đến giờ mà không trả, gọi điện thì không nghe máy”. Anh C trả lời “nó chết rồi, lỗ rồi không còn mà trả, mày làm gì được thì làm”. Thấy C nói vậy, T ra ghế trước quầy pha chế của quán nước nhặt 01 con dao loại dao gọt H quả mũi nhọn, cán nhựa màu đen, rồi ngồi xuống ghế, đồng thời dùng tay pH cắm mạnh con dao xuống mặt ghế bên cạnh và đe dọa C “thế giờ ý ông làm sao”. Anh C nói “Mày làm sao, mày giết tao được không”. Bực tức, T rút dao đang cắm ở mặt ghế, một tay tỳ lên vai anh C, một tay cầm dao dí vào cổ anh C rồi nói “mày đừng có thách bố mày”. Thấy T và C to tiếng và giằng co với nhau, N đi ra cửa quán lấy 01 chiếc đòn gánh bằng tre, tiến đến vụt 02 cái trúng vào vùng lưng của C. Sau đó, T và N cùng chửi bới và yêu cầu anh C chuyển 01 Bitcoin trả cho T. Do bị đánh và đe dọa nên anh C đã đồng ý chuyển 01 Bitcoin cho T. Sau đó, T đã gửi 01 ví điện tử Bitcoin và 01 địa chỉ ví ETH vào tài khoản mạng xã hội Zalo cho anh C và yêu cầu chuyển vào một trong hai địa chỉ nêu trên. Anh C liền gọi điện cho vợ là chị Nguyễn Thị T bảo chuyển 01 Bitcoin vào địa chỉ của T cung cấp. Khoảng 30 phút sau, chị T báo đã chuyển thành công 01 Bitcoin vào địa chỉ ví điện tử của T. Khi T, N đánh và đe dọa anh C thì V, T, T, V đứng ở xung quanh không có lời nói, hành động gì.
Sau khi xác nhận xong giao dịch, T cùng với V, N, T, V và T cùng trở về khách sạn FLC H nghỉ. Còn anh C đi đến Bệnh viện tỉnh Quảng Ninh cấp cứu và trình báo Cơ quan điều tra.
Lê Quyết T và Vũ Duy N có các lời khai cơ bản phù hợp với nhau và phù hợp với nội dung vụ án về thời gian, địa điểm và sự việc N cùng T đã gây thương tích cho anh Hồ Văn C. Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và tự nguyện bồi thường thiệt hại cho anh Hồ Văn C số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
Bị hại anh Hồ Văn C có lời khai cơ bản phù hợp với lời khai của các bị cáo về thời gian, địa điểm và sự việc anh bị Lê Quyết T dùng dao dí vào cổ đe dọa để đòi 01Bitcoin, còn N dùng đòn gánh vụt vào lưng anh gây thương tích pH điều trị tại bệnh viện, tổn hại 15% sức khỏe. Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho anh số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), anh không có yêu cầu gì khác về trách nhiệm bồi thường và không yêu cầu Lê Quyết T pH trả 01Bitcoin.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T (là vợ anh Hồ Văn C) có lời khai cơ bản phù hợp với lời khai của anh Hồ Văn C và các bị cáo về thời gian và sự việc chị đã chuyển 01Bitcoin vào địa chỉ ví điện tử của Lê Quyết T theo yêu cầu của anh Hồ Văn C. Chị T có đơn xin xử án vắng mặt và không có yêu cầu gì.
Các anh chị Trịnh Thị V, Cao Đình T, Tống Đức V khai cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại về thời gian, địa điểm và sự việc các anh chị được Lê Quyết T rủ đi cùng để đòi anh Hồ Văn C 01 Bitcoin. Khi T và Vũ Đức N cãi chửi nhau về đồng Bitcoin và sau đó đánh anh C thì họ không tham gia, không có hành đồng và lời nói gì.
Người làm chứng chị Trần Thị Thanh H và anh Nguyễn Thái H xác nhận sự việc xảy ra tại ki ốt B132 phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 565/19/TgT ngày 18/10/2019 của T tâm pháp y Sở y tế tỉnh Quảng Ninh, kết luận thương tích của anh Hồ Văn C như sau: gẫy ngang bên pH đốt sống L1,2,3 làm anh C bị tổn hại 15% (mười lăm phần trăm) sức khỏe; các tổn thương do vật tầy gây nên.
Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKSHL ngày 06/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố Lê Quyết T và Vũ Duy N về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự, thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự (dùng hung khí nguy hiểm).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố hai bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: - Bị cáo Lê Quyết T từ 24 đến 30 tháng tù.
- Bị cáo Vũ Duy N từ 24 đến 30 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 30.000.000đ, bị hại không có yêu cầu đề nghị gì khác nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố đối với các bị cáo, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Lời khai của bị cáo Lê Quyết T và Vũ Duy N phù hợp với lời khai của bị hại anh Hồ Văn C và vợ là chị Nguyễn Thị T và lời khai của những người làm chứng về sự việc T và N đòi đồng Bitcoin và đánh anh C gây thương tích thiệt hại 15%.
Cơ quan điều tra tổ chức cho nhận dạng và cho các anh chị Nguyễn Thái H, Hồ Văn C, Trịnh Thị V, Cao Đình T xem lại đoạn video clip thu giữ tại ki ốt B132 tại thời điểm xảy ra sự việc. Kết quả: anh H, anh C, chị V, anh T, anh T, anh V nhận ra và khẳng định Lê Quyết T, Vũ Duy N là người gây thương tích cho anh Hồ Văn C.
Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ 01 đoạn video được trích xuất từ camera tại Ki ốt B132 thuộc khu phường B, thành phố H thể hiện hình ảnh sự việc đúng như lời khai của các bị cáo, bị hại và những người làm chứng.
Lời khai của các bị cáo và bị hại còn phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản vụ việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Căn cứ vào các tài liệu điều tra và lời khai của bị cáo đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy lời khai của bị cáo đã phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 23 giờ ngày 13/10/2019, tại ki ốt B132 thuộc khu 1 phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, do mâu thuẫn trong việc đòi đồng Bitcoin, Lê Quyết T đã có hành vi dùng dao dí vào cổ anh Hồ Văn C; Vũ Duy N đã có hành vi dùng đòn gánh bằng tre đánh vào vùng lưng anh Hồ Văn C gây thương tích, tổn hại 15% (mười lăm phần trăm) sức khỏe.
Hành vi nêu trên của Lê Quyết T và Vũ Duy N có dấu hiệu của tội “Cướp tài sản” quy định tại điều 168 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên tại thời điểm các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố điều tra, truy tố và xét xử đối với Lê Quyết T và Vũ Duy N thì Pháp luật V Nam chưa quy định đồng Bitcoin và các loại tiền ảo khác là tài sản nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm đối với tội “Cướp tài sản”.
Vì vậy hành vi gây thương tích nêu trên của Lê Quyết T và Vũ Duy N đối với anh Hồ Văn C đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự, thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự (dùng hung khí nguy hiểm).
Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm;...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02
năm đến 06 năm: ...
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này”.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố các bị cáo theo bản cáo trạng là đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người, làm mất trật tự trị an địa phương. Từ việc giải quyết mâu thuẫn trong việc đòi đồng Bitcoin, các bị cáo đã không biết kìm chế để tìm cách giải quyết tích cực hơn mà đã dùng dao, gậy là hung khí nguy hiểm để đe dọa và đánh gây nên thương tích cho bị hại, làm tổn hại 15% sức khỏe. Hành vi của các bị cáo đã thể hiện việc coi thường sức khỏe, danh dự của người khác. Do vậy cần thiết pH xử lý nghiêm đối với các bị cáo cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: bị cáo T là người chủ động rủ bị cáo N và những người khác đi gặp anh C để đòi đồng Bitcoin, T cũng là người dùng dao đe dọa, uy hiếp tinh thần anh C một cách tích cực, còn bị cáo N là người trực tiếp dùng gậy gây lên thương tích 15% cho anh C. Do các bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “cố ý gây thương tích” nên Hội đồng xét xử đánh giá vai trò của các bị cáo là ngang nhau.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, nên các bị cáo đều được áp dụng quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.
Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: các bị cáo phạm tội đều lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy không cần thiết pH cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, để có điều kiện lao động, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000đ, bị hại và người có quyền lợi N vụ liên quan không đề nghị gì về 01 Bitcoin và yêu cầu gì khác nên không đề cập giải quyết.
Về vật chứng của vụ án: cơ quan điều tra thu giữ: 01 con dao, 01 đòn gánh là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy. Các vật chứng khác Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã xử lý theo thẩm quyền nên không xét đến.
Về án phí: các bị cáo pH chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Quyết T và Vũ Duy N đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1,2,5 điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Quyết T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Quyết T cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H để giám sát, giáo dục bị cáo.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Duy N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Duy N cho Ủy ban nhân thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Uyên để giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm N vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo pH chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm d khoản 1 điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 51 và 52/2020/HSST-LCĐKNCT ngày 06/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Vũ Duy N và Lê Quyết T kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điều 331; điều 333; khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao, 01 đòn gánh (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 123/BB-THA ngày 26/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H).
Buộc các bị cáo Lê Quyết T và Vũ Duy N mỗi bị cáo pH nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Quyết T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo Vũ Duy N, bị hại và người có quyền lợi N vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận: -VKSND TP. H;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -VKSND tỉnh Quảng Ninh
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh; -Bị cáo; bị hại; người có QLNVLQ -Chi cục Thi hành án TP H; -Lưu VP, hồ sơ vụ án;
Đặng Mai Lan Các hội thẩm
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa
Đặng Mai Lan
| Nơi nhận: -VKSND TP. H; -Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh; -Bị cáo; -Chi cục Thi hành án TP H; -Lưu VP, hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Mai Lan |