vanban.org

Bản án 156/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Mã Phú Đ.

Về con chung: Giao cháu M T M, sinh ngày 10/01/2018 cho chị Nguyễn Bảo T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Mã Phú Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu M T M, sinh ngày 10/01/2018 mỗi tháng 745.000 đồng cho đến khi cháu M tròn 18 tuổi. Anh Mã Phú Đ không trực tiếp nuôi con có quyền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Mã Phú Đ khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Bảo T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Mã Phú Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI - TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:156/2020/HNGĐ-ST
Ngày 30 - 6 - 2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Ngọc Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ D, tỉnh Cà Mau.

Ngày 30 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:154/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2020, về tranh chấp “ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Mã Phú Đ, sinh năm 1988; cư trú tại: Đường H B, khóm 4, phường 7, thành phố B L, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Bảo T, sinh năm 1989; cư trú tại: Ấp T T, xã N H, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện anh Mã Phú Đ trình bày:

Về hôn nhân: Anh Đ và chị T kết hôn vào ngày 11/11/2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 7, thành phố B L, hôn nhân tự nguyện. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Anh Đ yêu cầu xin ly hôn với chị T.

Về con chung: Có 01 người con chung tên M T M, sinh ngày 10/01/2018, hiện tại cháu Mẫn đang sống với chị T. Khi ly hôn anh Đ đồng ý giao con cho chị T nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật đến khi cháu M tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung và về nợ: Anh Đ xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với chị Nguyễn Bảo T: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho chị T theo quy định pháp luật nhưng chị T vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh Mã Phú Đ có đơn xin từ chối tham gia phiên tòa sơ thẩm và chị Nguyễn Bảo T đã được Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt các văn bản tố tụng đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng chị T vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định pháp luật.

Về hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Đ thấy rằng, từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa ra xét xử, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho chị T biết việc anh Đ khởi kiện xin ly hôn với chị, nhưng chị T không có ý kiến đối với yêu cầu của anh Đ xem như chị T đã đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của anh Đ. Xét về nguyên nhân mâu thuẫn, xuất phát từ việc anh Đ và chị T bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh, chị đã hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không thể tiếp tục chung sống điều đó chứng tỏ mâu thuẫn của anh, chị đã đến mức trầm trọng. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ, cho anh Mã Phú Đức được ly hôn với chị Nguyễn Bảo T.

Về con chung: Đối với cháu T M, từ ngày anh Đ và chị T ly thân đến nay cháu M do chị T nuôi dưỡng vẫn đảm bảo phát triển đầy đủ về thể chất lẫn tinh thần. Do đó, cần giao cháu Tuệ M cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, ghi nhận sự tự nguyện của anh Mã Phú Đ, anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Mã Tuệ M, sinh ngày 10/01/2018 mỗi tháng 745.000 đồng cho đến khi cháu M tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ người khác và người khác nợ lại: Anh Đ xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: vào các Điều 28; Điều 35 và khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Mã Phú Đ. Cho anh Mã Phú Đ được ly hôn với chị Nguyễn Bảo T.

2. Về con chung: Giao cháu M T M, sinh ngày 10/01/2018 cho chị Nguyễn Bảo T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Mã Phú Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu M T M, sinh ngày 10/01/2018 mỗi tháng 745.000 đồng cho đến khi cháu M tròn 18 tuổi.

Anh Mã Phú Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Mã Phú Đ phải chịu 300.000 đồng. Ngày 16 tháng 4 năm 2020 anh Đ đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0010506 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ D, được chuyển thu.

Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Mã Phú Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Anh Mã Phú Đ và chị Nguyễn Bảo T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ