- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Kim A đối với bị đơn anh Nguyễn Duy H về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 156/2019/HNGĐ-ST Ngày: 20-11-2019 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thụy Vân Hà;
2. Bà Nguyễn Thị Vân Khanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Bương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 846/2019/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2019 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 134/2019/QĐST-HNGĐ ngày 01/11/2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim A, sinh năm 1988; thường trú: Tổ 1, khu phố B, phường C, thị xã D, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1982; thường trú: Xóm 3, khối 2, thị trấn Đ, huyện E, tỉnh Nghệ An; tạm trú: Số 1/28, khu phố L, phường M, thị xã M, tỉnh Bình Dương.
(Chị Trần Thị Kim A có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh Nguyễn Duy H vắng mặt không rõ lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/8/2019 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị Kim A trình bày:
Chị Trần Thị Kim A và anh Nguyễn Duy H chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 143/2016, ngày 02/12/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên từ khoảng cuối năm 2018, chị A và anh H phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, thường xuyên cãi vả, anh H không có trách nhiệm với gia đình. Mặc dù đã nhiều lần tạo cơ hội cho nhau để mỗi người cùng thay đổi và hòa hợp nhưng không có kết quả. Từ đầu năm 2019, chị A và anh H sống ly thân. Đến nay thì mâu thuẫn giữa hai bên càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên chị A yêu cầu được ly hôn với anh H.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị A và anh H có một con chung là Nguyễn Trần Yến N, sinh ngày 23/10/2017. Sau ly hôn, chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn anh Nguyễn Duy H: Quá trình tố tụng, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn để làm việc, viết bản tự khai vào ngày 20/9/2019; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 14/10/2019; tham gia phiên tòa ngày 01/11/2019 và 20/11/2019 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, bị đơn cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ngày 12/9/2019 Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa chị Trần Thị Kim A và anh Nguyễn Duy H tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường M và được cung cấp như sau: Hội Liên hiệp phụ nữ phường M không nhận được đơn đề nghị hòa giải quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Kim A và anh Nguyễn Duy H. Đồng thời Hội Liên hiệp phụ nữ phường M cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai anh chị, do đó không biết rõ giữa hai anh chị có mâu thuẫn như thế nào, vấn đề con chung, công việc và thu nhập Hội Liên hiệp phụ nữ phường M cũng không biết nên không cung cấp được thông tin cho Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trần Thị Kim A khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con với bị đơn anh Nguyễn Duy H, anh H có nơi cư trú tại địa chỉ số 1/28 khu phố L, phường M, thị xã M, tỉnh Bình Dương. Vì vậy, đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Trần Thị Kim A có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Duy H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim A và anh Nguyễn Duy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường C, thị xã D, tình Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 143/2016, cấp ngày 02/12/2016 đúng với quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo nguyên đơn trình bày thì vợ chồng tính cách không hợp nhau, thường xuyên cãi vả, anh H không có trách nhiệm với gia đình. Chị A và anh H sống ly thân từ đầu năm 2019 đến nay.
Xét thấy, Tòa án đã triệu tập anh H có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến nhằm hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh H không đến và cũng không có ý kiến, yêu cầu gì. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị A và anh H đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cả hai bên đều không muốn hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị A là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Chị A và anh H có một con chung là Nguyễn Trần Yến N, sinh ngày 23/10/2017. Tòa án đã triệu tập anh H để trình bày ý kiến về con chung nhưng anh H vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng. Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “2. Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con…trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con…3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi,…”. Xét cháu Nguyễn Trần Yến N còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi nên cần sự quan tâm, chăm sóc từ người mẹ để phát triển toàn diện. Vì vậy, việc chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trần Yến N là phù hợp với quy định pháp luật và bảo đảm được quyền lợi về mọi mặt của con nên có căn cứ chấp nhận.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Nghĩa vụ nuôi con là của cả cha lẫn mẹ, khi ly hôn, người không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, chị A không yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An về quan điểm giải quyết vụ án.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Kim A phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Kim A đối với bị đơn anh Nguyễn Duy H về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim A được ly hôn với anh Nguyễn Duy H (Giấy chứng nhận kết hôn số 143/2016, ngày 02/12/2016 do Uỷ ban nhân dân phường C, thị xã D, tỉnh Bình Dương cấp).
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Trần Yến N, sinh ngày 23/10/2017 cho chị Trần Thị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Kim A không yêu cầu anh Nguyễn Duy H cấp dưỡng nuôi con.
Sau ly hôn, anh Nguyễn Duy H có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, chị Trần Thị Kim A không được cản trở anh Nguyễn Duy H thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Kim A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0029144 ngày 20/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự .
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại cá Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thị xã Dĩ An; - Chi cục THADS thị xã Dĩ An; - TAND tỉnh Bình Dương; - UBND phường C, thị xã D, tỉnh Bình Dương; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Minh Trang |