- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Dư Thị Kim P khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng với ông Phan Văn N"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 156/2019/DS-ST Ngày: 19-11-2019 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Trí;
2. Ông Tôn Phước Thuận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Trong ngày 19 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 323/2019/TLST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 514/2019/QĐXX-ST ngày 08 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Dư Thị Kim P, sinh năm 1981; địa chỉ cư trú: số 113 đường Lê Trọng Tấn, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Người đại diện theo ủy quyền của bà Dư Thị Kim P là ông Dương Văn T, sinh năm 1980; địa chỉ cư trú: Số 113 đường Lê Trọng Tấn, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền ngày 13/8/2019); Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phan Văn N, sinh năm 1973; địa chỉ cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Dư Thị Kim P trình bày: Ngày 24/4/2019, ông Phan Văn N có hỏi mượn số tiền 55.000.000đồng để hoàn tất thủ tục hồ sơ vay vốn ngân hàng, hẹn sau ba ngày sẽ trả lại nhưng đến hạn thì ông không trả như cam kết nên khởi kiện yêu cầu ông N trả tiền còn nợ 55.000.000đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 24/4/2019 với mức lãi suất 1%/tháng. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đòi tiền vốn; đối với việc tính lãi thì thay đổi, yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án ngày 19/7/2019. Bị đơn ông Phan Văn N đã được tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải nhưng ông không gửi văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: [1.1] Bà Dư Thị Kim P khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng với ông Phan Văn N. Ông N có nơi cư trú ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định; [1.2] Ông Phan Văn N đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về nội dung: [2.1] Bà Dư Thị Kim P khởi kiện yêu cầu ông Phan Văn N trả số tiền vay hiện còn thiếu là 55.000.000đồng, căn cứ khởi kiện là giấy biên nhận. Quá trình giải quyết ông N không gửi ý kiến cho Tòa án về việc thụ lý vụ án. Xét thấy hợp đồng vay tiền được giao kết giữa ông N và bà P là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015. Bà P khởi kiện đòi số tiền vốn 55.000.000đồng. Do ông N không thực hiện nghĩa vụ trả lại số tiền trên cho bà Phương là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 nên yêu cầu khởi kiện của bà P là có căn cứ và được chấp nhận. [2.2] Bà P yêu cầu ông N phải trả lãi từ ngày 24/4/2019 với mức lãi suất 1%/tháng; tại phiên tòa đương sự có thay đổi là yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án ngày 19/7/2019. Hội đồng xét xử căn cứ giấy biên nhận xác định giao dịch giữa các đương sự là hợp đồng vay không có thời hạn và không có lãi; Căn cứ Điều 468 Bộ luật dân sự và được hướng dẫn tại khoản 1, Điều 5; điểm b, khoản 1, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn theo quy định của pháp luật và tiền lãi được tính như sau:
Từ ngày 19/7/2019 đến ngày 19/11/2019 là 123 ngày, tiền lãi được tính là: 55.000.000đồng x (10%/năm) (10/100/365) x 123 ngày = 1.853.000đồng.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Các Điều 26, 35, 39, 147, 227 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dư Thị Kim P.
1) Buộc ông Phan Văn N có nghĩa vụ trả cho bà Dư Thị Kim P số tiền vốn vay là 55.000.000đồng (Bằng chữ: Năm mươi lăm triệu đồng) và số tiền lãi 1.853.000đồng (Bằng chữ: Một triệu tám trăm năm mươi ba nghìn đồng);
2) Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Ông Phan Văn N phải chịu án phí sơ thẩm là 2.842.650đồng (Bằng chữ: Hai triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn sáu trăm năm mươi đồng); bà Dư Thị Kim P được nhận lại số tiền 1.375.000đồng (Bằng chữ: Một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013347 ngày 18/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Về quyền háng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H. Chợ Mới; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Hùng |