vanban.org

Bản án 156/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị Th được ly hôn anh Hoàng Văn T.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Hoàng Phan A, sinh ngày 13/5/2010 cho chị Phan Thị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Hoàng Văn T. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn do mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị Th được ly hôn anh Hoàng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2018/HNGĐ - ST
Ngày: 20/9/2018.
V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà: Nguyễn Thị Cảnh 2.Ông: Nguyễn Đăng Lĩnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Thùy - Kiểm sát viên. Ngày 20 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2018/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 04/9/2018 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Chị Phan Thị Th, sinh năm: 1980; địa chỉ: Xóm H, , xã T, huyện Y, tỉnh NA - Có mặt. Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm H, , xã T, huyện Y, tỉnh NA.Vắng mặt.(Có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 10/7/2018, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa nguyên đơn chị Phan Thị Th trình bày như sau: Chị và anh Hoàng Văn T kết hôn với nhau vào ngày 19/7/2009 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh NA.Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến tháng 10/2009 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nên chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay.Tình cảm vợ chồng là không còn nữa chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Hoàng Văn T.

Về nuôi con chung:Vợ chồng có một con chung là Hoàng Phan A, sinh ngày 13/5/2010, con ở với chị từ nhỏ đến nay. Vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Hoàng Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ: Chị Phan Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của bị đơn: Tại biên bản ghi lời khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 16/8/2018 anh Hoàng Văn T có ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phan Thị T kết hôn với nhau vào ngày 19/7/2009 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh NA.Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 03 tháng đầu,đến tháng 10/2009 thì xảy ra mâu thuẫn nên chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Tình cảm vợ chồng là đang còn anh không đồng ý ly hôn với chị Phan Thị Th.

Về nuôi con chung:Vợ chồng có một con chung là Hoàng Phan A, sinh ngày 13/5/2010 ở với chị từ nhỏ đến nay. Trường hợp vợ chồng ly hôn thì anh có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu chị Phan Thị Th cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ: Anh Hoàng Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong qúa trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn không đến Tòa án tham gia phiên họp, hòa giải theo thông báo của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81,82,83Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị Th được ly hôn anh Hoàng Văn T.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Hoàng Phan A, sinh ngày 13/5/2010 cho chị Phan Thị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Hoàng Văn T.

Về chia tài sản và nợ: Chị Phan Thị Th và anh Hoàng Văn T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Phan Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: §©y lµ vô ¸n thuéc tr êng hîp Tòa án kh«ng tiÕn hµnh hoµ gi¶i được vì bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn có tình vắng mặt được quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 §iÒu 207 của Bé luËt tè tông d©n sù. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Thị Th và anh Hoàng Văn T là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh NA vào ngày 19/7/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là vào tháng 10 năm 2009 và hai bên đã sống ly thân cho đến nay. Chị Phan Thị Th xin ly hôn thì anh Hoàng Văn T không đồng ý. Xét thấy anh Hoàng Văn T đã được Tòa triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh không đến Tòa án để làm việc, điều đó chứng tỏ anh không có thiện chí trong việc hàn gắn lại quan hệ hôn nhân đã rạn nứt. Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Thị Th và anh Hoàng Văn T chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Th, xử cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn T là đúng với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung:Vợ chồng có một con chung là Hoàng Phan A, sinh ngày 13/5/2010.Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Phan Thị Th có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Hoàng Văn T cấp dưỡng nuôi con. Ý kiến anh Hoàng Văn T cũng có nguyện vọng được nuôi con và không yêu càu chị Thủy cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của cháu Hoàng Phan A là được ở với mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Hoàng Phan A ở với chị Thủy từ nhỏ đến nay do đó giao con cho chị Phan Thị Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con, đảm bảo được quyền lợi mọi mặt của con, đúng với quy định tại các Điều 81;82;83 Luật hôn nhân và gia đình. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Hoàng Văn T.

Về chia tài sản và nợ: Chị Phan Thị Th và anh Hoàng Văn T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Phan Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị Th được ly hôn anh Hoàng Văn T.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Hoàng Phan A, sinh ngày 13/5/2010 cho chị Phan Thị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Hoàng Văn T.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí: Chị Phan Thị Th

300.000(Ba trăm ngàn) hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000(Ba trăm ngàn) đồng

0001344 ngày 18/7/2018

, tỉnh Nghệ An.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ