vanban.org

Bản án 156/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc C và Lê Châu Bảo Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: LÊ CHÂU BẢ O Q 08 (tam) năm tù về tội “Cướp giật tai sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bi ̣ bắt ta ̣m giữ, tạm giam: 25/4/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc Công và đồng bọn - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc C và Lê Châu Bảo Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 33 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 156/2017/HSST
Ngày : 26/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Thành Lân

2/ Ông Đặng Văn Qúy

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Tân Bình - Tp. Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Chi - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 177/2017/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2017 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: TRẦN NGỌC C; giới tính: nam; sinh ngày: 04/11/1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số nhà 9/3 đườ ng V, phường 12, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: số nhà 9/3 đườ ng V, phường 12, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; con ông: Trần Ngọc T và bà: Nguyễn Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 20/5/2009, Tòa án nhân dân quâ ̣n Tân Phú Thành phố Hồ Chí Minh xử pha ̣t 01 năm tù về tô ̣i “Cướ p giâ ̣t tài sản”; Ngày 13/9/2011, Tòa án nhân dân Quâ ̣n 1, Thành phố Hồ Chi Minh xứ

̉ pha ̣t 04 năm tù về tô ̣i” Cướ p giâ ̣t tài sản” (đa dượ̃

c đương nhiên xóa án tích); tạm giữ, tạm giam: ngày 25/4/2017.

(Có mặt tại phiên tòa)

2/ Họ và tên: LÊ CHÂU BẢO Q (tên khác: Bô); giới tính: nam; sinh năm: 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số nhà 2231 đườ ng H, phường 10, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: số nhà 136/45 đườ ng T, phường 10, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Lê Nho N và bà: Châu Thị S; vợ: Phạm Thị Xuân H (không đăng ký kết hôn); con: 01 người sinh năm 2010; tiền án: Ngày 30/3/1999, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 tháng tù về tội “cướp giật tài sản” (bản án số 543/HSST), chấp hành xong ngày 06/6/1999; Ngày 14/12/1999, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 24 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản công dân” (bản án số 603/HSST), chấp hành xong ngày 06/7/2001; Ngày 07/12/2001, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” (bản án số 428/2001/HSST), chấp hành xong ngày 11/8/2004; Ngày 14/6/2005, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” (bản án số 96/2005/HSST), chấp hành xong ngày 20/3/2009; Ngày 23/3/2010, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” (bản án số 54/2010/HSST), chấp hành xong ngày 01/6/2016; tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: ngày 25/4/2017.

(Có mặt tại phiên tòa)

Ngườ i bi ̣ hại: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1994

Địa chỉ: ấp 2, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chi Minh.́

(Vắng mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chi ̣ Hồ Thị Kim T, sinh năm 1990

Đi ̣a chỉ: 752/100 đườ ng L, phường 9, quận T, Thành phố Hồ Chi Minh.́

(Vắng mặt tại phiên tòa).

2. Anh Đinh Văn M, sinh năm 1987

Địa chỉ: xóm T, thôn N, xã V, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

3. Ông Võ Châu T, sinh năm 1956

Đi ̣a chỉ: 311, ấp 2, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre

(Vắng mặt tại phiên tòa).

4. Ông Hồ Văn T, sinh năm 1965

Đi ̣a chỉ: ấp N, huyện B, tỉnh Bến Tre

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NHẬN THẤY:

Các bị cáo Trần Ngọc C và Lê Châu Bảo Q bị Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Trần Ngọc C và Lê Châu Bảo Q (Bô) có mối quan hệ bạn bè do cùng chơi game bắn cá với nhau. Chiều ngày 25/4/2017, C đến tiệm game bắn cá trên đường Vườn Lan, phường 10, quận Tân Bình thì gặp Q. Tại đây C rủ Q đi cướp giật tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, Q đồng ý, nhưng do C có việc riêng nên về nhà và he ̣n đến tối cùng đi. Khoảng 19h cùng ngày, Q điều khiển xe máy hiệu Yamaha biển số 12K7-0944 (xe mang biển số giả) đến đầu hẻm nhà C tại nhà thờ Tân Việt rồi chở C lưu thông trên nhiều tuyến đường tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật. Đến khoảng 19h50’, khi đang lưu thông trên đường Trần Mai Ninh, phường 12, quận Tân Bình thì C phát hiện chị Nguyễn Thị N đang dừng xe trước nhà số 26 đườ ng Trần Mai Ninh sử dụng điện thoại di động nên chỉ cho Q thấy. Q điều khiển xe quay lại dừ ng phia sau cách chị N một đoạn để quan sát́ đồng thời đưa cho C một bình xịt hơi cay màu đen và nói sau khi cướp giật nếu có người rượt đuổi thì sử dụng. Quan sát được một lúc Q điều khiển xe áp sát bên trái chị N để C ngồi sau dùng tay phải giật điện thoại. Sau khi giật xong, Q tăng ga bỏ chay, chị N tri hô và cùng quần chúng phối hợp với lực lượng trinh sát đuổi theo bắt giữ được C và Q cùng tang vật. Trong lúc truy bắt, C ngồi sau dùng bình xịt hơi cay xịt vào những người truy đuổi để tẩu thoát.

Tại cơ quan điều tra Trần Ngo ̣c C và Lê Châu Bảo Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi cướp giật của mình như nêu trên.

Vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại di động Samsung J7 tri ̣ giá 3.500.000 đ, đã trả lại bị hại Nguyễn Thị N.

- 01 xe gắn máy hiệu Taurus, biển số12K7-0944 là phương tiện gây án.

Tại bản cáo trạng số 134/CTr-VKS ngày 07 tháng 9 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Trần Ngọc C về tô ̣i “Cướp giật tài sản”theo điểm d, đ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; truy tố Lê Châu Bảo Q về tô ̣i “Cướp giật tài sản”theo điểm c, d, đ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa hôm nay, sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Ngọc C về tô ̣i “Cướp giật tài sản” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 và truy tố Lê Châu Bảo Q về tô ̣i “Cướp giật tài sản” theo điểm c, d, đ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo Trần Ngọc C mức án từ 05 năm đến 06 năm tù, xử phạt bị cáo Lê Châu Bảo Q mức án từ 09 năm đến 10 năm tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY:

Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo tra ̣ng của Viện kiểm sát đã truy tố và khai:

Bị cáo C khai: Chiều ngày 25/4/2017, bi ̣ cáo đến tiệm game bắn cá trên đường Vườn Lan, phường 10, quận Tân Bình thì gặp Q. Tại đây bi ̣ cáo rủ Q đi cướp giật tài sản của ngườ i đi đườ ng để bán lấy tiền tiêu xài. Q đồng ý nhưng do lúc đó bi ̣ cáo có viê ̣c đi về nhà nên he ̣n đến tối đi. Khoảng 19h cùng ngày, Q đi xe gắn máy đến đầu hẻm nhà bi ̣ cáo tại nhà thờ Tân Việt rồi chở bi ̣ cáo lưu thông trên nhiều tuyến đường. Đến khoảng 19h50’, khi đến đường Trần Mai Ninh, phường 12, quận Tân Bình thì bi ̣ cáo phát hiện có chị phu ̣ nữ đang dừng xe sử dụng điện thoại di động nên chỉ cho Q thấy. Q điều khiển xe quay lại dừ ng phía sau chị phu ̣ nữ một đoạn để quan sát đồng thời đưa cho bi ̣ cáo một bình xịt hơi cay màu đen và nói sau khi cướp giật nếu có người rượt đuổi thì sử dụng. Quan sát được một lúc thi Q điều khiển xe áp sát bên trái chị phu ̣̀

nữ để bi ̣ cáo ngồi sau dùng tay phải giật điện thoại. Sau khi giật xong, Q tăng ga bỏ cha ̣y, nhưng bi ̣ cáo và Q mớ i cha ̣y được mô ̣t đoa ̣n thi bi ̣̀ bắt giữ .

Bị cáo Q khai: Lờ i khai của bi ̣ cáo C là đúng, do muốn có tiền tiêu xài nên khi nghe C rủ đi cướ p giâ ̣t bi ̣ cáo đa đỗ ̀ng ý và khoảng 19h50’ ngày 25/4/2017 bi ̣ cáo chở C ngồi sau thực hiê ̣n vu ̣ cướ p giâ ̣t tài sản trên đườ ng Trần Mai Ninh, phường 12, quận Tân Bình nhưng trên đườ ng tẩu thoát thi bi ̣̀ bắt giữ.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp vớ i lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét hành vi vi phạm pháp luật của các bị cáo, căn cứ kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, căn cứ các điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự quy định. Hội đồng xét xử nhâ ̣n thấy đa đũ ̉ cở sở kết luâ ̣n bi ̣ cáo Lê Châu Bảo Q pha ̣m vào tô ̣i Cướ p giâ ̣t tài sản, tô ̣i pha ̣m và hinh pha ̣̀

t được quy đi ̣nh ta ̣i c, d, đ khoản 2 Điều 136 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự̀

năm 1999 sử a đổi bổ sung năm 2009; bi ̣ cáo Trần Ngo ̣c C đa pha ̣̃

m vào tội “cướp giật tài sản” tô ̣i pha ̣m và hinh pha ̣̀

t được quy đi ̣nh tại điểm d, đ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Hành vi pha ̣m tô ̣i của các bi ̣ cáo là nghiêm tro ̣ng, nguy hiểm cho xa hô ̣̃ i, đa xâm̃ pha ̣m tớ i quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luâ ̣t nhà nướ c bảo vê ̣, làm ảnh hưở ng xấu tớ i trâ ̣t tự an toàn ta ̣i đi ̣a phương.

Các bi ̣ cáo nhâ ̣n thứ c được hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi pha ̣m pháp luâ ̣t, nhưng do tham lam, muốn thỏa man nhu cầu cũ

̉a cá nhân nên đa cỗ ́ ý phạm tội. Các bi ̣ cáo đều là những ngườ i có nhân thân xấu, bi ̣ cáo Q đa tã ́i pha ̣m chưa được xóa án tich la ̣́

i tiếp tu ̣c pha ̣m tô ̣i, chứ ng tỏ các bi ̣ cáo coi thườ ng pháp luâ ̣t, vì vậy cần xử các bị cáo mức án phù hợp mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừ a chung.

Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra và phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiê ̣m dân sự: Ngườ i bi ̣ ha ̣i vắng mă ̣t nhưng căn cứ vào hồ sơ vu ̣ án, xét thấy ngườ i bi ̣ ha ̣i đa nhâ ̣̃

n la ̣i tài sản, hiê ̣n nay không có thắc mắc khiếu na ̣i gi nên không̀ có gi phà

̉i giải quyết.

Về vật chứng:

Đối vớ i 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7, đã được thu hồi trả lại bị hại . Hiê ̣n nay không có ai thắc mắc khiếu na ̣i gì nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Đối vớ i 01 xe gắn máy hiệu Taurus, biển số 12K7-0944, số khung: RLCS16S20-9Y059891, số máy: 16S2-059893 (xe mang biển số giả) là phương tiện gây án, do Công an thu giữ khi bắt Q. Lê Châu Bảo Q khai xe mua lại của một thanh niên không rõ lai lịch với giá 1.800.000 đồng tại tiệm game bắn cá trước khi bị bắt 07 ngày, người bán hẹn giao giấy tờ xe sau nhưng không thấy đem đến, Q không biết gì về nguồn gốc xe.

Tiến hành giám đi ̣nh số khung, số máy của chiếc xe bi ̣ thu giữ có kết qủa: số khung, số máy không đổi và xác đi ̣nh biển số thâ ̣t của chiếc xe bi ̣ thu giữ là 71H5-0061 do ông Võ Châu T, sinh năm 1956, địa chỉ: số nhà 311, ấp 2, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre đứng tên chủ sở hữu. Ông T khai đã bán xe máy này cho ông Hồ Văn T, sinh năm 1965, địa chỉ: ấp Nhơn Thuận, xa M, huyện B, tỉnh Bến Tre với giá 8.000.000 đồng cách̃ đây 08 năm. Ông T khai giao xe cho con gái là Hồ Thị Kim T, sinh năm 1990 đem lên Thành phố Hồ Chí Minh đi làm. Chị T khai ngày 02/4/2017 xe máy bị mất trộm tại bãi giữ xe nhà trọ 752/100 Lạc Long Quân, phường 9, quận Tân Bình nhưng không trình báo công an phường. Cơ quan điều tra đã tiến hành giao trả xe gắn máy số khung: RLCS16S20-9Y059891, số máy: 16S2-059893 cho chị Hồ Thị Kim T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Tiến hành xác minh biển số xe 12K7-0944, kết qủa biển số xe này được cấp cho chiếc xe nhan hiê ̣̃

u Taken có số khung JUM7B186077, số máy FMH186077, do ông Đinh Văn M đứng tên đăng ký sở hữu. Qua xác minh, ông M đi làm ăn xa, không có mặt tại địa phương nên không lấy được lờ i khai.

Đối với 01 biển số xe 12K7-0944 không có giá tri ̣ nên ti ̣ch thu tiêu hủ y.

Đối với 01 bình xịt hơi cay màu đen được quấn băng keo màu đen xung quanh thu giữ của bị cáo C. Xét đây là dụng cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 đoản có tay cầm nhựa dài khoảng 12cm; 01 ống nối đoản màu trắng dài khoảng 4cm; 02 đầu đoản hình trụ lục giác, đầu đã được vuốt nhọn dài khoảng 3cm; 01 dụng cụ dùng để mở ổ khóa có tay cầm nhựa đen, đầu có móc dài khoảng 6cm; 01 con dao cán đen dài khoảng 15cm thu giữ của bị cáo Q. Xét không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 áo khoác màu xanh đen nhãn hiệu Grab do Công an thu giữ khi bắt bi ̣ cáo Q. Xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bi ̣ cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩmtheo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc C và Lê Châu Bảo Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm c, d, đ khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009:

Xử phạt: LÊ CHÂU BẢ O Q 08 (tam) năm tù về tội “Cướp giật tai sản”.

́

̀

Thời hạn tù tính từ ngày bi ̣ bắt ta ̣m giữ, tạm giam: 25/4/2017.

Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009;

Xử phạt: TRẦN NGỌC C 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày bi ̣ bắt ta ̣m giữ, tạm giam: 25/4/2017.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a,đkhoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu: 01 biển số xe 12K7-0944; 01 bình xịt hơi cay màu đen được quấn băng keo màu đen xung quanh; 01 đoản có tay cầm nhựa dài khoảng 12cm; 01 ống nối đoản màu trắng dài khoảng 4cm; 02 đầu đoản hình trụ lục giác, đầu đã được vuốt nhọn dài khoảng 3cm; 01 dụng cụ dùng để mở ổ khóa có tay cầm nhựa đen, đầu có móc dài khoảng 6cm; 01 con dao cán đen dài khoảng 15cm để tiêu hủy (tình tra ̣ng theo phiếu nhâ ̣p vâ ̣t chứ ng số 122/PNK ngày 16/5/2017 của Công an quâ ̣n Tân Binh) .̀

Trả lại cho bị cáo Lê Châu Bảo Q : 01 áo khoác màu xanh đen nhãn hiệu Grab (tinh tra ̣̀

ng theo phiếu nhâ ̣p vâ ̣t chứ ng số 122/PNK ngày 16/5/2017 của Công an quâ ̣n Tân Binh) .̀

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phí và lê ̣ phi Tó ̀a án:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).

Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đương sự theo quy định tại Điều 26 Luật Thi hành án (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại, ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ