vanban.org

Bản án 1554/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật tố tụng dân sự;

của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1554/2023/HNGĐ-ST
Ngày 10 tháng 8 năm 2023
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Thức

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Nhơn

Bà Nguyễn Thị Bính Thân

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Xuân Trường - Cán bộ Tòa án

nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà

Dương Thị Diễm - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh - Thành

phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số

0797/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp Ly hôn, theo quyết

định đưa vụ án ra xét xử số: 404/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/7/2023 giữa các

đương sự:

Nguyên đơn: Ông Võ Công V, sinh năm 1988

Nơi cư trú: 558/50/11B đường Bình Quới, phường 28, quận X, TP.Y

Bị đơn: Bà Đỗ Thị Y N, sinh năm 1987

Nơi cư trú: 558/50/11B đường Bình Quới, phường 28, quận X, TP.Y

(Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 20 tháng 4 năm 2023 Toà án nhân dân quận Bình Thạnh thụ lý vụ án dân

sự về tranh chấp ly hôn, do nguyên đơn ông Võ Công Vkhởi kiện đối với bị đơn bà Đỗ

Thị Y N. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp,

tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản về việc không hòa giải được nguyên đơn ông

Võ Công V trình bày:

Ông Võ Công Vvà bà Đỗ Thị Y N tự nguyện kết hôn vào năm 2009, có đăng ký

kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 28, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số: 33/2009, quyển số 01, đăng ký ngày 21 tháng 7 năm 2009.

Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn: Do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất

đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng hay cãi vã nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng đã Nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả dẫn đến việc chung sống với nhau làm cho tâm trạng luôn căng thẳng, mệt mỏi kéo dài. Bà Đỗ Thị Y N bỏ nhà đi không điện thoại về thăm hỏi, một mình ông trực tiếp cấp sóc con nhỏ. Sau này được biết bà Đỗ Thị Y N vi phạm pháp luật hình sự, đang chấp hành án tại Trại giam Thủ Đức (Z30D) Bộ Công an. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do đó ông Võ Công Vyêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Đỗ Thị Y N để sớm ổn định cuộc sống lo cho con.

Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung là Võ Đỗ Công Toàn,

sinh ngày 29/9/2008, hiện nay đang do ông Võ Công Vtrực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, sau khi ly hôn ông yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con ông Võ Công Vkhông yêu cầu bà Đỗ Thị Y N cấp dưỡng nuôi con, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, nợ chung: Ông Võ Công Vxác định không có, nên không yêu cầu

Tòa án giải quyết. Ngoài ra ông không có yêu cầu nào khác.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 11/7/2023 tại Trại giam Thủ Đức (Z30D) Bộ

Công an, bị đơn bà Đỗ Thị Y N trình bày:

Bà Đỗ Thị Y N thừa nhận bà và ông Võ Công Vtự nguyện kết hôn vào năm

2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 28, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số: 33/2009, quyển số 01, đăng ký ngày 21 tháng 7 năm 2009.

Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn: Do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất

đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng đã Nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả, hiên nay bà Đỗ Thị Y N đang chấp hành án tại Trại giam Thủ Đức (Z30D) Bộ Công an. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà Đỗ Thị Y N cũng đồng ý ly hôn với ông Võ Công Vđể cho ông Võ Công Vsớm ổn định cuộc sống lo cho con.

Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung là Võ Đỗ Công Toàn,

sinh ngày 29/9/2008, hiện nay đang do ông Võ Công Vtrực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, sau khi ly hôn bà Đỗ Thị Y N đồng ý giao con chung cho ông Võ Công Vtrực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, nợ chung: Bà Đỗ Thị Y N xác định không có, nên không yêu cầu

Tòa án giải quyết. Ngoài ra bà không có yêu cầu nào khác

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa sơ thẩm

nhận xét:

1. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những

người tham gia tố tụng:

- Việc thụ lý vụ án của Tòa là đúng thẩm quyền. Tòa án ra thông báo thụ lý,

thông báo hòa giải, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai

chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Từ khi thụ lý cho đến thời điểm tiến

hành xét xử vụ án Thẩm phán chấp hành đúng các quy định tại các Điều 48, 170, 181,

209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử:

Tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đúng quy

định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

- Việc tuân thủ pháp luật của người tham gia tố tụng:

Đối với nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa ngày hôm nay, thực hiện

các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn, từ khi thụ lý đến phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn đã thực hiện

đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố dụng dân sự.

2. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 59

của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn

ông Võ Công V; Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung là Võ Đỗ Công

Toàn, sinh ngày 29/9/2008 giao cho ông Võ Công Vtrực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng,

ông Võ Công Vkhông yêu cầu bà Đỗ Thị Y N cấp dưỡng nuôi con, nên không đề nghị

Tòa án giải quyết; Về tài sản và nợ chung: Ông Võ Công Vvà bà Đỗ Thị Y N cùng xác

định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về án phí ông Võ Công Vphải

chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà,

căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Võ Công Vxin

ly hôn với bà Đỗ Thị Y N, hiện nay bà Đỗ Thị Y N có cư trú tại quận Bình Thạnh,

Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm

a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về việc “ly hôn” thuộc

thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Nguyên đơn ông Võ Công Vcó đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà, nên việc

Toà án xét xử vắng mặt ông là phù hợp với quy định khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ

luật tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Đỗ Thị Y N có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà, nên việc Toà

án xét xử vắng mặt bà là phù hợp với quy định khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố

tụng dân sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp Viện

kiểm sát tham gia phiên tòa.

2. Về nội dung:

Ông Võ Công Vvà bà Đỗ Thị Y N tự nguyện kết hôn vào năm 2009, có đăng ký

kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 28, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số: 33/2009, quyển số 01, đăng ký ngày 21 tháng 7 năm 2009 nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp.

Xét yêu cầu của của ông Võ Công Vyêu cầu ly hôn với bà Đỗ Thị Y N, Hội đồng

xét xử nhận thấy:

Quá trình giải quyết ly hôn tại Tòa án, Tòa án đã Nhiều lần phân tích động viên

ông Võ Công Vvề đoàn tụ, cùng nhau chung sống xây dựng cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, nuôi dạy các con nên người, tuy Nhiên ông Võ Công Vvẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với bà Đỗ Thị Y N vì tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân của ông bà đã thực sự trầm trọng, không thể hàn gắn được. Tại biên bản ghi lời ngày 11/7/2023 tại Trại giam Thủ Đức (Z30D) Bộ Công an, bị đơn bà Đỗ Thị Y N cũng đồng ý ly hôn với ông Võ Công Vvì bà cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân hạnh phúc vững bền cần phải được xây dựng trên

cơ sở tình cảm tự nguyện, thiện chí của vợ chồng cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy Nhiên giữa ông Võ Công Vvà bà Đỗ Thị Y N có Nhiều bất hòa trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng lạnh nhạt không hạnh phúc, đã hòa giải những bất hòa trong cuộc sống nhưng không thành, dẫn đến việc ông bà sống ly thân kéo dài không còn quan tâm chăm sóc gì cho nhau. Hiện nay bà Đỗ Thị Y N đang chấp hành án tại Trại giam Thủ Đức (Z30D) Bộ Công an, bà Đỗ Thị Y N cũng đồng ý ly hôn với ông Võ Công Vđể ông Võ Công Vsớm ổn định cuộc sống, ý kiến trên của bà Đỗ Thị Y N cũng phù hợp với yêu cầu khởi kiện của ông Võ Công V, điều này thể hiện giữa ông Võ Công Vvà bà Đỗ Thị Y N không còn tình cảm vợ chồng với nhau, mâu thuẫn của ông bà đã thực sự trầm trọng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ông Võ Công Vxin ly hôn với bà Đỗ Thị Y N là có cơ sở để chấp nhận căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung là Võ Đỗ Công Toàn,

sinh ngày 29/9/2008. Kể từ ngày ông bà sống ly thân, ông Võ Công Vlà người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, hiện nay trẻ Võ Đỗ Công Toàn đang có cuộc sống ổn định với ông Võ Công Vvà cũng phù hợp với nguyện vọng của trẻ Võ Đỗ Công Toàn muốn được ở với ông Võ Công V. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận giao trẻ Võ Đỗ Công Toàn, sinh ngày 29/9/2008 cho ông Võ Công Vtrực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Võ Công Vkhông yêu cầu bà Đỗ Thị Y N cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản, nợ chung: Ông Võ Công Vvà bà Đỗ Thị Y N cùng xác định không

có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

3.Về án phí, Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm,

thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Võ Công Vphải chịu toàn bộ

án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 238, 266, 271, 273, 278, 280, 482 của

Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 59 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia

đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết

của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và

lệ phí Tòa án;

Áp dụng Luật Thi hành án dân sự,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Võ Công V

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Công Vđược ly hôn với bà Đỗ Thị Y N.

1.2. Về con chung: Giao cho ông Võ Công Vtrực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng

trẻ Võ Đỗ Công Toàn, sinh ngày 29/9/2008. Ông Võ Công Vkhông yêu cầu bà Đỗ Thị

Y N cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không xét.

Bà Đỗ Thị Y N có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích

của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người

trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản và nợ chung: Ông Võ Công Vvà bà Đỗ Thị Y N cùng xác định

không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Công Vphải chịu án phí hôn nhân và gia

đình sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là

300.000 đồng, theo biên lai thu số 0027656 ngày 18/4/2023 của Chi cục thi hành án

dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Võ Công Vđã nộp đủ án phí

dân sự sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền

thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị

cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự;

thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân

sự.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày

được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ