vanban.org

Bản án 155 — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh P về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bà Nguyễn Thị Q. Buộc bà Nguyễn Thị Q trả cho ông Trần Thanh P số tiền vay còn nợ gốc 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), không tính lãi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "P-Q"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN THANH BÌNH

NAM

TỈNH ĐỒNG THÁP

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Bản án số: 155/2023/DS-ST Ngày: 18/7/2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cương

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Liệt

Ông Lê Văn Dài

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 18/7/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 474/2022/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155A/2023/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Thanh P, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người địa diện theo ủy quyền là chị Nguyễn Thanh V, sinh năm 1988; địa chỉ ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 13/4/2023)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Q sinh năm 1962.

Địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị V có mặt; bà Q vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ngừời đại diện theo ủy nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 30/4/2016, bà Nguyễn Thị Q có vay của ông Trần Thanh P vay số tiền 10.500.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm, lãi suất thỏa thuận 1,66%/tháng. Tuy nhiên đên nay, bà Q chỉ trả lãi chưa trả gốc. Nay ông P khởi kiện yêu cầu bà Q trả số tiền gốc là 5.000.000 đồng , không tính lãi.

Đối với bà Nguyễn Thị Q là bị đơn, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bà bế đều vắng mặt không lý do, nên không thu thập được ý kiến của bà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, và kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện Trần Thanh P và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Về việc tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Q cư trú tại khóm Ấ, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Q theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về nội dung:

Người đại diện theo ủy quyền của ông P là chị Nguyễn Thanh V cam kết chữ ký và chữ viết và chữ viết tên Nguyễn Thị Q là của bị đơn trong vụ án và cam đoan sẽ chịu trách nhiệm về sự cam kết này.

Biên nhận ngày 30/4/2016 cũng thể hiện, bà Q có nhận số tiền vay của ông Trần Thanh P là 10.500.000 đồng và ông P thừa nhận có trả lãi nhưng chưa trả gốc nên ông P yêu cầu bà Q trả tiền gốc là 5.000.000 đồng, không tính lãi.

Từ những phân tích đã nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật do là người cao tuổi.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 471, Điều 476 của Bộ luật dân sự 2005; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản;

Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh P về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bà Nguyễn Thị Q.

Buộc bà Nguyễn Thị Q trả cho ông Trần Thanh P số tiền vay còn nợ gốc 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), không tính lãi.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Q được tiền án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi.

Ông Trần Thanh P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Trần Thanh P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 353.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0016020 ngày 07/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án và bản được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ