- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ Lâm Thị T; Trần Thanh V"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị T đối với bị đơn anh Trần Thanh V.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 155/2026/HNGĐ-ST Ngày: 11-5-2026 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Láth
Bà Đào Đắc Cẩm Tú
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhi - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ.
Ngày 11 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 17/2026/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 267/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Khu V, phường V, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở hiện nay: Số A, đường N, Khu V, phường P, thành phố Cần Thơ; (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Trần Thanh V, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu V, phường V, thành phố Cần Thơ (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/01/2026 cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lâm Thị T trình bày: Chị T và anh V tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 2009 đến năm 2010 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện V, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường V, thành phố Cần Thơ) vào ngày 10 tháng 08 năm 2010 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Trong thời gian chung sống, chị T và anh V có 03 con chung gồm: cháu Trần Ngọc Nhã Q (nữ), sinh ngày 02/11/2010, cháu Trần Lâm Vũ B (nam), sinh ngày 14/03/2012, cháu Trần Hải Đ (nam), sinh ngày 09/10/2013, hiện các cháu đang sống cùng chị T. Những năm đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc nhưng được thời gian cả hai bất đồng quan điểm, không hợp tính tình, vợ chồng mâu thuẫn không ai biết, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, đến tháng 4/2025 hai người ly thân cho đến nay.
Nay nhận thấy hai vợ chồng tình cảm đã không còn, hạnh phúc hôn nhân tan vỡ, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Trần Thanh V. Về con chung: Chị T yêu cầu giải quyết giao 03 con chung là cháu cháu Trần Ngọc N Quyên (nữ), sinh ngày 02/11/2010, cháu Trần Lâm Vũ B (nam), sinh ngày 14/03/2012, cháu Trần Hải Đ (nam), sinh ngày 09/10/2013 cho chị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi; chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nơ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Trần Thanh V nhưng anh V không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị T, đồng thời anh V cũng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho anh Trần Thanh V nhưng anh V vẫn vắng mặt không có lý do, chị Lâm Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định của pháp luật.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 08/01/2026 chị Lâm Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Trần Thanh V có nơi cư trú Khu vực 2, phường V, thành phố Cần Thơ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng sự, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị T nhận thấy chị T và anh V tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2009, đến năm 2010 có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện V, tỉnh Sóc Trăng (nay là UBND phường V, thành phố Cần Thơ) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/8/2010. Quan hệ hôn nhân của chị T và anh V không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không còn hòa hợp với nhau, thường hay xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Chị T nhận thấy cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không còn tình cảm vợ chồng với anh V nên có nguyện vọng ly hôn. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh V.
Về con chung: Thời gian chung sống với nhau chị T và anh V có 03 con chung là cháu Trần Ngọc N Quyên (nữ), sinh ngày 02/11/2010, cháu Trần Lâm Vũ B (nam), sinh ngày 14/03/2012, cháu Trần Hải Đ (nam), sinh ngày 09/10/2013 hiện đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các cháu đến khi các cháu đủ 18 tuổi và theo ý kiến của các cháu Q, B, Đ nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau các cháu có nguyện vọng sống chung với mẹ. Để đảm bảo cuộc sống của các cháu Q, B, Đ không bị xáo trộn, để các cháu phát triển bình thường về tâm, sinh lý nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao các cháu Trần Ngọc N Quyên, cháu Trần Lâm Vũ B, cháu Trần Hải Đ cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh V phải thực hiện cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị T đối với bị đơn anh Trần Thanh V.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị T được ly hôn với anh Trần Thanh V.
- Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc Nhã Q (nữ), sinh ngày 02/11/2010, cháu Trần Lâm Vũ B (nam), sinh ngày 14/03/2012, cháu Trần Hải Đ (nam), sinh ngày 09/10/2013 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Trần Thanh V không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Anh V không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Q, B, Đ của chị T thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với anh V.
- Về tài sản chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Chị T khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2/ Về án phí sơ thẩm: Chị Lâm Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo lai số 0000544 ngày 10/01/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Như vậy, chị T đã thực hiện xong. Anh Trần Thanh V không phải chịu án phí sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Cần Thơ (Phòng GĐ,TT,KT&THA); - VKSND khu vực 8-Cần Thơ; - Đương sự; - Phòng THADS khu vực 8 - Cần Thơ; - UBND phường Vĩnh Châu; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Chiêu Hùng |