vanban.org

Bản án 155/2026/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị M.

Buộc bà Lâm Kim L phải trả cho bà Phạm Thị M số tiền hụi là 18.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười tám triệu đồng), ghi nhận bà Phạm Thị M không yêu cầu tính lãi. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Phạm Thị M - Lâm Kim L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2026/DS – ST
Ngày: 16/6/2026
Về việc “Tranh chấp
hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Tùng.

2. Ông Võ Quốc Việt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 54/2026/TLST- DS ngày 12 tháng 01 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2026/QĐXXST – DS, ngày 12/5/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 258/2026/QĐST-DS ngày 28/5/2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1964, CCCD số xxxxxxxxxxxx (có mặt).

Địa chỉ: khu phố T, phường B, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Bà Lâm Kim L, sinh năm 1983, CCCD số xxxxxxxxxxxx (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố T, phường B, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị M trình bày:

Đầu năm 2024, bà M có chơi hụi với bà Lâm Kim L do bà L làm chủ hụi, bà M là hụi viên tham gia chơi hụi. Bà M có tham gia 01 dây hụi của bà L ngày 04/5/2024 (âl), dây hụi 500.000 đồng, có 34 phần, hụi khui 01 tháng 02 lần, bà M tham gia 04 phần, đóng được 20 phần, mỗi tháng cụ thể là bao nhiêu thì bà M không nhớ rõ nhưng theo giấy xác nhận viết tay của bà L viết cho bà M thì số tiền hụi còn nợ là 23.200.000 đồng, bà M đã lãnh tiền hụi được 01 phần trong 04 phần và không có nợ tiền hụi của bà L đối với phần hụi đã lãnh tiền hụi, hụi chưa mãn nhưng bà L tuyên bố vỡ hụi. Sau đó, bà L đã trả cho bà M được 02 lần với số tiền là 5.200.000 đồng vào ngày 02/4/2025 (âl) và ngày 28/5/2025 (âl), còn lại số tiền bà L nợ là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Sau khi bỏ trốn, ngày 27/9/2025 bà L trở về và viết giấy xác nhận số tiền hụi còn nợ bà M là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Nay bà M yêu cầu bà Lâm Kim L trả cho bà M số tiền hụi là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn là bà Lâm Kim L nhưng bị đơn vắng mặt và không có trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bị đơn bà Lâm Kim L vắng mặt tại phiên tòa không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà L là phù hợp.

Về số tiền nợ gốc: Nguyên đơn bà Phạm Thị M yêu cầu bị đơn bà Lâm Kim L trả lại số tiền hụi còn nợ. Theo trình bày của nguyên đơn, tổng số tiền hụi mà bà M đã góp cho bà L là 23.200.000 đồng. Sau đó, bà L đã trả cho bà M được 02 lần với số tiền là 5.200.000 đồng, còn lại số tiền bà L nợ là 18.000.000 đồng. Sau khi bỏ trốn, ngày 27/9/2025 bà L trở về và viết giấy xác nhận số tiền hụi còn nợ bà M là 18.000.000 đồng. Xét thấy, căn cứ vào giấy viết tay không tiêu đề có nội dung thể hiện: “Thiếu mợ 5 hụi tổng cộng 23.200.000 đ, ngày mùng 02/4/2025 âl gởi mợ 5 3.200.000 đ, còn 20.000.000 hai chục triệu đồng, ngày 28/5/2025 âl gởi 2.000.000 đ, còn lại 18.000.000 mười tám triệu đồng”, bà M xác định chữ viết trong giấy viết tay là do bà Lâm Kim L viết cho bà để xác nhận nợ số tiền hụi còn nợ là 18.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ: thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho phía bị đơn là bà L, tuy nhiên bà L vẫn vắng mặt không lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án, đồng thời không có giao nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của bà đối với yêu cầu của nguyên đơn bà M, cũng như không có giao nộp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào để phản đối yêu cầu của nguyên đơn bà M đưa ra. Vì vậy, căn cứ vào Điều 91 và 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy: bản thân bà L là chủ hụi đã tham gia giao dịch về góp hụi với bà M là hụi viên nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền hụi cho hụi viên đã góp là vi phạm hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà M, do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, buộc bà L phải hoàn trả cho bà M số tiền hụi là 18.000.000 đồng vốn gốc là phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên buộc bị đơn là bà Lâm Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 18.000.000 đồng x 5% = 900.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị M.

Buộc bà Lâm Kim L phải trả cho bà Phạm Thị M số tiền hụi là 18.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười tám triệu đồng), ghi nhận bà Phạm Thị M không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Lâm Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 900.000 đồng (Bằng chữ: Chín trăm nghìn đồng).

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ