- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đào Văn A 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 09 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội danh, buộc bị cáo Đào Văn A phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 155/2025/HS-ST Ngày: 26 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Đăng Năng
Bà Nguyễn Thùy Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 79/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2025/HSST-QĐ ngày 17 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Đào Văn A, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2004, tại Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn X, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa (nay là xã V, tỉnh Khánh Hòa); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn M (sinh năm 1969) và bà Lương Thị T (sinh năm 1979); tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983; địa chỉ: D N, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường N, tỉnh Khánh Hòa); vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Ông Hoàng Văn T2, sinh năm 2001; địa chỉ: B D, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường N, tỉnh Khánh Hòa); vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Hoàng Văn T3, sinh năm 1983; địa chỉ: 1 G, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường T, tỉnh Khánh Hòa); có mặt tại phiên tòa.
2. Ông Huỳnh Văn T4, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (nay là xã C, tỉnh Khánh Hòa); vắng mặt tại phiên tòa.
3. Ông Thanh Trung H, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (nay là xã C, tỉnh Khánh Hòa); vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 8/2024, chị Nguyễn Thị T1 thuê Đào Văn A làm nhân viên phụ bếp tại quán B, địa chỉ: D D, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường N, tỉnh Khánh Hòa). Quá trình làm việc, chị T1 giao cho Văn A sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Nouvo SX màu đỏ đen biển kiểm soát 79Z1-255.54 để sử dụng đi giao hàng và giao điện thoại di động hiệu Samsung cho Văn A để sử dụng phục vụ công việc của cửa hàng.
Tối ngày 05/9/2024, Văn A ngủ tại quán B, đến khoảng 05 giờ ngày 06/9/2024, Văn A ngủ dậy thấy anh Hoàng Văn T2 đang ngủ trong phòng, bên cạnh để 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max 64GB màu trắng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Văn A lén lút lấy điện thoại Iphone XS Max 64GB của anh T2 bỏ vào túi. Sau đó, Văn A đi xuống tầng trệt, tiếp tục lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung của chị T1 bỏ vào túi rồi dắt xe mô tô biển kiểm soát 79Z1-225.54 ra khỏi quán rồi điều khiển xe bỏ đi.
Sau khi chiếm đoạt được tài sản, Văn A sử dụng ứng dụng Facebook đăng bán xe mô tô biển kiểm soát 79Z1-225,54, điện thoại di động hiệu XS Max 64GB và điện thoại đi động hiệu S. Khoảng 14 giờ ngày 06/9/2024, Văn A bán điện thoại hiệu S cho một người phụ nữ tại khu vực đèo R, N với giá 1.500.000 đồng. Khoảng 18 giờ ngày 06/9/2024, Văn A tiếp tục bán điện thoại di động hiệu Iphone XS Max 64GB cho một người phụ nữ khác tại khu vực đèo R, N với giá 2.500.000 đồng.
Khoảng 13 giờ ngày 07/9/2024, Văn A đến quán cà phê gần giáo xứ B, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường B, tỉnh Khánh Hòa) bán xe mô tô biển kiểm soát 79Z1-225.54 cho một thanh niên với giá 1.500.000 đồng.
Ngày 11/9/2024, Hoàng Văn T3 thông qua mạng xã hội Facebook đã liên hệ mua xe mô tô biển kiểm soát 79Z1-225.54 với giá 3.300.000 đồng của một thanh niên (chưa xác định được lai lịch) tại khu vực gần Bến xe phía Bắc, N. Đến ngày 13/9/2024, T3 đăng bán xe mô tô biển kiểm soát 79Z1-225.54 trên mạng xã hội Facebook thì chị T1 và anh T2 thấy bài đăng nên đên trình báo Công an phường V. Cơ quan Công an đưa T3 về làm việc và thu giữ xe mô tô biển kiểm soát 7921-225.54.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐGTS ngày 05/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N xác định: 01 điện thoại di động Iphone XS Max - 64GB có giá trị 6.690.000 đồng (thời điểm định giá tháng 9/2024).
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 07/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N xác định: Xe máy YAMAHA – NOUVE SX (BKS 79Z1-225.54) có giá trị 7.280.000 đồng (thời điểm định giá tháng 9/2024).
Tại Công văn số 3391/HĐĐGTS ngày 13/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Khánh Hòa xác định không có cơ sở xác định tình trạng kinh tế - kỹ thuật, tình trạng sử dụng và chất lượng còn lại của tài sản tại thời điểm yêu cầu định giá (tháng 9/2024) nên không có cơ sở tiếp nhận yêu cầu định giá đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung (tài sản đã qua sử dụng).
Bản Cáo trạng số 20/CT-VKSKV1 ngày 01/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Đào Văn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa giữ nguyên kết luận truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm a khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đào Văn A từ 06 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, từ 06 tháng đến 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội danh, buộc bị cáo Đào Văn A phải chấp hành hình phạt từ 01 năm đến 02 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị T1 không yêu cầu nên không xem xét. Bị hại ông Hoàng Văn T2 có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường 7.200.000 đồng, bị cáo đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vật chứng vụ án: 01 (một) xe mô tô biển số 79Z1-225.54, nhãn hiệu Yamaha Nouvo SX màu đỏ đen (tình trạng tài sản như lúc tạm giữ ban đầu) đã trả cho chủ sở hữu.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với nội dung cáo trạng đã truy tố, tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy, hồ sơ đã có lời khai và sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, bị hại Nguyễn Thị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Đào Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 05 giờ ngày 06/9/2024, tại quán B1, số D D, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường N, tỉnh Khánh Hòa) Đào Văn A đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại Iphone XS Max 64GB trị giá 6.690.000 đồng của anh Hoàng Văn T2.
Ngoài ra, Đào Văn A đã lợi dụng việc chị Nguyễn Thị T1 tin tưởng giao 01 xe mô tô biển kiểm soát 79Z1-225.54 trị giá 7.280.000 đồng của chị T1 để Văn A quản lý, sử dụng, đem đi bán lấy tiền tiêu xài.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng hồ sơ vụ án thể hiện bà T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bị hại ông Hoàng Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng hồ sơ vụ án thể hiện ông T2 yêu cầu bị cáo bồi thường 7.200.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại ông Hoàng Văn T2 nên có cơ sở chấp nhận.
Đối với Hoàng Văn T3 khi mua xe mô tô biển số 79Z1-225.54 không biết rõ xe do người khác phạm tội mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với các đối tượng mua điện thoại di động điện thoại Iphone XS Max 64GB, điện thoại Samsung và xe mô tô biển số 79Z1-225.54 do Đào Văn A bán, chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Về vật chứng vụ án: 01 xe mô tô biển số 79Z1-225.54, nhãn hiệu Yamaha Nouvo SX màu đỏ đen (tình trạng tài sản như lúc tạm giữ ban đầu) đã trả cho chủ sở hữu bà Nguyễn Thị T1.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm a khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Đào Văn A 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 09 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội danh, buộc bị cáo Đào Văn A phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; bị cáo Đào Văn A phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại ông Hoàng Văn T2 số tiền 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng).
Quy định chung: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Đào Văn A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 360.000 đồng (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Khánh Hòa; - VKSND khu vực 1 - Khánh Hòa; - CQCSĐT Công an tỉnh Khánh Hòa; - THADS tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; bị hại; NLQ; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |