- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 155/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/03/2025 V/v:“Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lữ Cẩm Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Danh Riêng;
2. Bà Nguyễn Thị Cẩm Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Lộc- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng tham gia phiên tòa-Bà Trần Thuý An- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 574/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc "Tranh chấp ly hôn " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXX-ST ngày 12 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2025/QĐST - HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Minh V, sinh năm 1979
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
(Anh V có mặt)
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1981
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
(Chị L vắng mặt lần 2 không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/7/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn anh Trần Minh V trình bày: Vào năm 1996, anh và chị Nguyễn Thị L cùng nhau đi đến hôn nhân, trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/9/2011.
Cuộc sống chung vợ chồng lúc đầu hạnh phúc nhưng sau đó thời gian đến năm 2019 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, thường hay xảy ra cự cải, không hợp nhau về tính tình và cách sống. Đến năm 2023 anh gửi đơn khởi kiện xin ly hôn với chị L tại Toà án và được Toà án thụ lý giải quyết nhưng sau đó chị L năn nỉ xin hàn gắn nên anh nghĩ vì gia đình nên đồng ý rút đơn không ly hôn nữa. Đến tháng 5 năm 2024 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẩn và chị L lại bỏ nhà đi không tiếp tục sống với anh nữa cho đến nay và cũng từ thời gian đó vợ chồng sống ly thân với nhau.
Nay anh xét thấy không còn tình cảm với chị L nữa nên quyết định ly hôn với chị L.
Về con chung: Trong quá trình chung sống anh và chị L có 02 người con chung tên Trần Thanh S, sinh năm 1997 và Trần Hữu N, sinh năm 1998, hiện nay đã trưởng thành và đã có gia đình riêng nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh có tạo lập được một số tài sản chung nhưng tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết còn về phần nợ thì vợ chồng cũng không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, anh Trần Minh V yêu cầu:
- Về hôn nhân: Xin ly hôn với chị Nguyễn Thị L
- Về con chung: Anh V xác nhận con đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị L: Đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị L đều không có mặt.
Tại phiên tòa anh V vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với chị L. Chị L vắng mặt lần 2 không lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Minh V.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Trần Minh Vũ T khởi kiện tranh chấp xin ly hôn với bị đơn chị Nguyễn Thị L có địa chỉ ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng đã triệu tập hợp lệ chị L tham gia phiên tòa nhưng bị đơn chị L vẫn tiếp tục vắng mặt phiên tòa lần thứ hai không có lý do và tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị L là phù hợp theo quy định pháp luật.
[2] Về hôn nhân: Anh V và chị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn năm 2011 tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2019 anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo anh V nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống giữa hai vợ chồng không phù hợp, năm 2023 anh gửi đơn xin ly hôn với chị L nhưng vì chị L năn nỉ nên anh nghĩ tình cảm vợ chồng nên anh hàn gắn để cùng nhau chăm lo cho gia đình hạnh phúc nhưng sau đó đến năm 2024 lại tiếp tục xảy ra mâu thuẩn và chị L đã ra ngoài sinh sống từ năm 2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết vụ án, chị L không có mặt theo thông báo để Tòa án tiến hành hòa giải, thể hiện chị không có thiện chí để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng và tại phiên tòa hôm nay mặc dù chị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng anh V và chị L đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh V yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị L để ổn định cuộc sống. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh V, xử cho anh V được ly hôn chị L là hoàn toàn phù hợp theo quy định pháp luật.
[3] Về quan hệ con chung: Anh V xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng anh có 02 người con chung tên Trần Thanh S, sinh năm 1997 và Trần Hữu N, sinh năm 1998, hiện nay đã trưởng thành, có gia đình riêng và không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập chị L đúng theo quy định pháp luật nhưng chị L vẫn vắng mặt không lý do nên Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung giữa anh V và chị L được. Hơn nữa anh V xác nhận vợ chồng anh có tạo lập được tài sản chung nhưng tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về phần tài sản chung HĐXX không xem xét nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
[5] Về nợ chung: Anh V cam kết không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[6] Xét lời trình bày của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh V phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 9, Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trần Minh V và chị Nguyễn Thị L.
2. Về con chung: Anh Trần Minh V xác nhận con đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
3. Về tài sản chung: Anh Trần Minh V xác nhận tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Anh Trần Minh V xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Anh Trần Minh V phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai số 0008897 ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang; anh V không phải nộp thêm.
“ Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Giồng Riềng; - Chi cục THADS huyện Giồng Riềng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lữ Cẩm Nhung |