- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản — án dân sự — "Hợp đồng thuê tài sản"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của Công ty Cổ phần X về việc yêu cầu chị Võ Thị Sao L trả lại xe mô tô biển số 63B1- 936.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 155/2025/DS-ST Ngày: 05-6-2025 V/v tranh chấp hợp đồng thuê tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tám.
2. Ông Huỳnh Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hiển-Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2025/TLST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần X.
Địa chỉ trụ sở chính: Phường BT, thành phố Z, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Đặng Ngọc Hướng D sinh năm 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: Xã PA, huyện L, tỉnh Tiền Giang.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 01/4/2025).
2. Bị đơn: Chị Võ Thị Sao L sinh năm 1982 (vắng mặt);
Địa chỉ: Xã MT, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Đặng Ngọc Hướng D trình bày:
Vào ngày 02/5/2024, Công ty Cổ phần X (sau đây gọi là Công ty) cho chị Võ Thị Sao L thuê chiếc xe mô tô 02 bánh biển số 63B1- 936.57 nhãn hiệu HONDA, loại xe SH Mode, màu xanh nâu, số khung 5150KZ052043, số máy JF87E5121438. Hai bên có ký hợp đồng cho thuê xe ngày 02/5/2024, giá thuê là 46.810.188 đồng, thời hạn thuê là 18 tháng, chị L phải thanh toán tiền thuê mỗi tháng là 2.600.566 đồng vào ngày 02 mỗi tháng. Nếu chị L không thanh toán đúng hạn thì phải trả phí yêu cầu thanh toán mỗi tháng là 4% trên dư nợ thực tế đã quá hạn, phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng với mức phí 08% trên giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (Điều 2 của hợp đồng). Trong quá trình thực hiện hợp đồng, chị L đã thanh toán tiền thuê xe được 2.619.614 đồng rồi ngưng không thanh toán cho Công ty từ ngày 02/7/2024 cho đến nay.
Nay Công ty yêu cầu chị L trả tiền thuê xe còn nợ tính đến ngày 05/6/2025 là 33.788.307 đồng. Rút lại yêu cầu chị L trả lại xe mô tô biển số 63B1- 936.57, phí yêu cầu và phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
* Chị Võ Thị Sao L đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án, không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các qui định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về rút một phần yêu cầu khởi kiện: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có văn bản rút lại yêu cầu chị L trả lại xe mô tô biển số 63B1- 936.57, phí yêu cầu và phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về việc vắng mặt đương sự: Xét thấy, chị Võ Thị Sao L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, chị Đặng Ngọc Hướng D vắng mặt và có yêu cầu vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị L và chị D.
Về yêu cầu trả tiền thuê xe còn nợ tính đến ngày 05/6/2025 là 33.788.307 đồng: Xét thấy chị L đã được Công ty cho thuê chiếc xe mô tô 02 bánh biển số 63B1-936.57 nhãn hiệu HONDA, loại xe SH Mode, màu xanh nâu, số khung 5150KZ052043, số máy JF87E5121438 theo hợp đồng cho thuê xe ngày 02/5/2024 đã được Công ty và chị L ký xác nhận. Sau khi nhận được xe, chị L đã thanh toán tiền thuê xe được 2.619.614 đồng rồi ngưng không thanh toán cho Công ty từ ngày 02/7/2024 cho đến nay. Công ty đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở, tạo điều cho chị L trả nợ nhưng vẫn không thực hiện. Như vậy chị L đã vi phạm hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ, việc Công ty yêu cầu chị L trả tiền thuê xe còn nợ tính đến ngày 05/6/2025 là 33.788.307 đồng là phù hợp với quy định tại các điều 472, 481 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị L phải chịu 1.559.387 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 472, 481 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 3 điều 228, Điều 238, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của Công ty Cổ phần X về việc yêu cầu chị Võ Thị Sao L trả lại xe mô tô biển số 63B1- 936.57, phí yêu cầu và phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần X.
Buộc chị Võ Thị Sao L trả cho Công ty Cổ phần X số tiền thuê xe tính đến ngày 05/6/2025 là 33.788.307 đồng (ba mươi ba triệu bảy trăm tám mươi tám nghìn ba trăm lẻ bảy đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
- Chị Võ Thị Sao L chịu 1.689.415 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn lại cho Công ty Cổ phần X 389.840 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0016538 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang.
3. Quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày; đối Công ty Cổ phần X và chị Võ Thị Sao L được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện C; - THADS huyện C; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Thi |