- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu L.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 155/2024/HS-PT Ngày 19 – 03 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Long
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Tuyết Trinh
Bà Huỳnh Thanh Duyên
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Duy Minh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đảm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 03 năm 2024 tại Phòng xử trực tuyến - trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (điểm cầu trung tâm) và Phòng xử trực tuyến - trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận (điểm cầu thành phần), Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 66/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hữu L.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2023/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hữu L, sinh năm 1985, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp trước khi bị khởi tố: nhân viên dọn phòng tại R2; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn P, sinh năm 1958 và bà Lê Thị Thu L1, sinh năm 1958; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Từ Thị Mỹ T, sinh năm: 1981 (đã ly hôn), hiện ở xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Con: Có một con, sinh năm: 2014; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 29/6/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt Nguyễn Hữu L 6 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 60/2017/HSPT. Chấp hành xong toàn bộ bản án vào ngày 21/01/2018. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại điểm cầu thành phần)
- Bị hại: Ông Maltsev Maksim V, sinh năm 1982, quốc tịch: Nga. Địa chỉ: R, R, đơn vị công tác: NPO Mashinos Troyenia.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Minh C, sinh năm 1981. Địa chỉ: Khu phố I, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
(Trong vụ án này người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hữu L là nhân viên dọn phòng của R3 thuộc thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Khoảng 08 giờ ngày 24/7/2022, sau khi được sự đồng ý của ông M Maksim Viktorovich lưu trú tại phòng số 71, căn B5 của R1, L cùng chị Hứa Thị Bích T1 vào dọn dẹp vệ sinh phòng số 71. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày 24/7/2022, chị T1 làm xong phần việc của mình và đi ra khỏi phòng; lúc này chỉ còn một mình L ở trong phòng, L nhìn thấy trong tủ quần áo có 01 túi màu đen để trên két sắt, L mở túi ra xem thì thấy bên trong túi có một số tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 100 USD và một số tờ tiền Việt Nam. Thấy xung quanh không có ai, L nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản để tiêu xài cá nhân nên lén lút lấy 03 tờ tiền đô la M1 mệnh giá 100 USD và 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng cất vào túi quần, rồi kéo túi da lại và để lại vị trí cũ, đi ra khỏi phòng, đóng cửa lại. L đem số tài sản vừa chiếm đoạt được cất giấu dưới ghế sô pha tầng trệt sát phòng 49, căn B3 của Resort Villa D, sau đó tiếp tục làm việc.
Khoảng 09 giờ cùng ngày 24/7/2022, sau khi ăn sáng xong ông Maltsev M2 Viktorovich quay về phòng thì thấy đồ đạc để không đúng như lúc đầu nên mở túi kiểm tra thì thấy thiếu 300 USD và 500.000 đồng tiền Việt Nam. Ông M liền báo lại việc mất tài sản cho nhân viên khách sạn rồi cùng nhân viên khách sạn đến trình báo Công an xã T. Sau khi tiếp nhận tin báo Công an xã T đã đến hiện trường lấy lời khai những người liên quan. Nguyễn Hữu L đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên và tự nguyện giao nộp số tài sản đã trộm cắp gồm: 03 tờ 100 USD và 01 tờ 500.000 đồng tiền Việt Nam.
Tại Kết luận định giá tài sản số 169A ngày 22/11/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: 03 tờ tiền đô la Mỹ, mỗi tờ có mệnh giá 100 USD. Tổng giá trị tài sản là 7.380.000 đồng (tại thời điểm ngày 24/7/2022). Như vậy, tổng giá trị tài sản L chiếm đoạt là: 7.380.000 đồng + 500.000 đồng = 7.880.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2023/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, đã tuyên xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Hữu L 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp, thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 7/9/2023, bị cáo Nguyễn Hữu L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm như sau:
Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Lời nói sau cùng, bị cáo mong muốn được chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu L đúng về hình thức, nội dung và được nộp trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 24/7/2022, tại phòng số 71, căn B5 của Resort Villa D thuộc thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Nguyễn Hữu L đã có hành vi lén lút trộm cắp 300 đô la Mỹ và 500.000 đồng tiền Việt Nam của ông Maltsev Maksim V. Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Hữu L đã trộm cắp trị giá 7.880.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết Nguyễn Hữu L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu L không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất ổn định về trật tự trị an của địa phương, ảnh hưởng đến thể diện Quốc gia khi bị hại là du khách nước ngoài nên cần áp dụng mức hình phạt đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, số tiền mà bị cáo chiếm đoạt, cũng như nhân thân bị cáo từng phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án 06 (sáu) tháng tù là tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu L.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2023/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
[2] Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Hữu L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc Nguyễn Hữu L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC; - VKSND cấp cao tại TPHCM; - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Cục THADS tỉnh Bình Thuận; - Công an tỉnh Bình Thuận; - BCTN (1); - Lưu (6). HS (2) 15b (Án 36) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Long |