- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Như Ý - Nguyễn Văn Nguyện"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Như Y.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 155/2024/HNGĐ-ST Ngày 25 - 6 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoàng Ảnh
Ông Thái Hoàng Bo
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 190/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Như Y, sinh năm 1997.
Địa chỉ cư trú: Ấp Lung Vinh, xã Q , huyện Đ , tỉnh C .
Chỗ ở hiện nay: Ấp Ngọc Tuấn, xã C , huyện C , tỉnh C . (vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N , sinh năm 1991.
Địa chỉ cư trú: Ấp Lung Vinh, xã Q , huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2024 trong qúa trình giải quyết nguyên đơn chị Trần Thị Như Y trình bày:
Về hôn nhân: Chị Y với anh N kết hôn vào năm 2013, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C , huyện C , tỉnh C . Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc và có với nhau 03 con chung. Thời gian gần đây vợ chồng mâu thuẫn do thường xuyên cãi nhau, dẫn đến bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải, hàn gắn nhưng không thành nên chị Y về cha mẹ ruột ở 03 tháng nay. Từ đó, tình cảm giữa vợ chồng không còn gắn bó, thương yêu nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai có trách nhiệm với ai. Nay, chị Y yêu cầu xin ly hôn với anh N.
Về con chung: Nguyễn Đăng K , sinh ngày 28/6/2014; Nguyễn Gia B , sinh ngày 20/3/2017 và Nguyễn Ngọc N , sinh ngày 18/02/2019. Sau khi ly hôn, chị Y yêu cầu được nuôi dưỡng trẻ K và trẻ N . Chị đồng ý giao trẻ B cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng; cấp dưỡng không đặt ra.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Chị Y xác định không có.
- Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn N : Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh N theo quy định pháp luật, nhưng anh N không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Y.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Vào ngày 22/5/2024 chị Y có đơn xin vắng mặt; anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng anh N vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt chị Y và anh N.
Về quan hệ hôn nhân. Chị Y với anh N kết hôn vào năm 2013, đến ngày 11/10/2017 anh chị đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận số 108/2017 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn C , huyện C , tỉnh C , hôn nhân anh chị hợp pháp.
Xét chị Y yêu cầu ly hôn với anh N thấy rằng, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ anh N nhiều lần để tham gia hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh N vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu của chị Y. Ngoài ra, chị Y xác định vợ chồng anh chị đã ly thân nhiều tháng nay, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau…”. Viện dẫn theo điều luật trên thấy rằng, tình trạng hôn nhân giữa chị Y với anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Y về việc ly hôn với anh N .
Về nuôi con chung: Khi ly hôn chị Y yêu cầu được nuôi trẻ Nguyễn Đăng K , sinh ngày 28/6/2014 và trẻ Nguyễn Ngọc N , sinh ngày 18/02/2019; chị Y đồng ý giao trẻ Nguyễn Gia B , sinh ngày 20/3/2017 cho anh N nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “...nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con...”. Viện dẫn theo điều luật trên thấy rằng, tại văn bản trình bày ý kiến của trẻ K và trẻ B thể hiện, trẻ Khôi có nguyện vọng ở với chị Y và trẻ B có nguyện vọng ở với anh N . Ngoài ra, từ khi anh chị ly thân đến nay trẻ K và trẻ N được chị Y chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định, để không làm thay đổi môi trường sống của các trẻ nên giao trẻ K , trẻ N cho chị Y và giao trẻ B cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Chị Trần Thị Như Y và anh Nguyễn Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Y và anh N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Chị Y xác định không có.
Án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, chị Y phải chịu án phí 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 2 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Như Y.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Như Y ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
2. Về nuôi con chung: Giao trẻ Nguyễn Đăng K , sinh ngày 28/6/2014 và trẻ Nguyễn Ngọc N , sinh ngày 18/02/2019 cho chị Trần Thị Như Y; giao trẻ Nguyễn Gia B , sinh ngày 20/3/2017 cho anh Nguyện Văn N trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị Trần Thị Như Ý và anh Nguyễn Văn Nguyện có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Như Y phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Y đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0001136 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị Y đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Trần Thị Như Y và anh Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Đương sự; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; - Ủy ban nhân dân thị trấn C , huyện C , tỉnh C - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VT.Tòa án Đầm Dơi. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Giang Nam |